Bộ ba Ván khắc Cổ Châu – Sự Trở về Sau Quên lãng

Phát hiện tình cờ ở chùa Dâu
Vào cuối thập niên 80 – đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm có dịp về thăm chùa Dâu (còn có các tên chữ Hán là chùa Diên Ứng, chùa Pháp Vân, chùa Cổ Châu) ở Thuận Thành, Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Chuyến đi nhằm phục vụ công tác điều tra, thu thập tư liệu chữ Hán chữ Nôm tại ngôi chùa nổi tiếng cổ kính vùng Kinh Bắc này.
Lúc bấy giờ, ở gian chái bên phải nhà Tổ của chùa là một kho chứa đủ các thứ gia cụ và nông cụ như nong, nia, thúng mủng, cào cuốc, gàu tát nước… Rất tình cờ, nhóm nghiên cứu đã nhìn thấy trong kho có để lẫn lộn nhiều tấm ván khắc tác phẩm “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục” 古珠法雲佛本行語錄, điều đặc biệt là bộ ván khắc này vẫn còn trọn vẹn toàn bộ.
Tác phẩm này vốn đã được lưu giữ tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu A.818, trước đó do Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội sưu tầm. Nhưng điều khiến nhóm nghiên cứu càng hào hứng hơn là việc họ phát hiện thêm hai bộ ván khắc khác liên quan, gồm: Tác phẩm văn vần chữ Nôm “Cổ Châu Phật bản hạnh” 古珠佛本行 và tác phẩm chữ Hán “Hiến Cổ Châu Phật tổ nghi” trong献古珠佛祖儀. Có một điều đáng chú ý là, bản in của hai tác phẩm này không hề có mặt tài liệu của Học viện Viễn Đông Bác cổ, và cũng chưa từng xuất hiện trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm vào thời điểm đó.
Ba tác phẩm: Ba thể loại, một mạch nội dung
Ba tác phẩm này có mối liên quan chặt nhẽ với nhau trước hết là ở mặt nội dung. Trong khi “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục” và “Cổ Châu Phật bản hạnh” kể lại sự tích bà A Man cùng các vị Phật thuộc hệ Tứ Pháp và tán dương công đức của họ thì “Hiến Cổ Châu Phật tổ nghi” là những bài văn cúng tỏ lòng tưởng nhớ của hậu thế đến chư Phật. Hai tác phẩm đầu đều có nội dung cơ bản như nhau, điểm khác biệt giữa hai tác phẩm này là ở chỗ, “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục” là văn bản cổ truyền, được khắc in nguyên văn chữ Hán, kèm theo lời diễn Nôm, tất cả đều là văn xuôi; còn “Cổ Châu Phật bản hạnh” lại hoàn toàn được viết bằng chữ Nôm theo văn vần thể lục bát vốn rất dễ đọc thuộc trong dân gian. Và tác phẩm thứ ba, “Hiến Cổ Châu Phật tổ nghi”, lại được viết với lối văn ngôn chữ Hán. Ba tác phẩm này đã được những người san khắc trong chùa đặt tên gọi tắt, lần lượt là: “Cổ Châu lục”, “Cổ Châu hạnh” và “Cổ Châu nghi”.
“Cổ Châu lục”: Bản dịch Nôm độc đáo
Nguyên văn chữ Hán tác phẩm “Cổ Châu lục” dài ngót 2.100 chữ, được ghi rõ là từ xưa truyền lại, không rõ tác giả. Cứ mỗi câu (hoặc một cú đoạn) nguyên văn chữ Hán thì có một câu tiếp theo dịch ra chữ Nôm, được khắc chữ nhỏ bằng nửa chữ Hán nguyên văn. Lối “dịch đuổi” và trình bày trên văn khắc như vậy là rất thường thấy ở một số tác phẩm Hán Nôm từ thời Lê Trịnh. Theo như thông tin được khắc ở bộ ván khắc tác phẩm này, việc san khắc ván in này được hoàn thành vào mùa Thu năm thứ 13 niên Hiệu Cảnh Hưng (1752) triều Lê. Theo một loạt các phân tích dựa theo cứ liệu văn bản lịch sử, có thể đoán định rằng, vào khoảng giữa hoặc cuối thế kỷ XIV (cuối nhà Trần) thì cổ bản Hán văn của “Cổ Châu lục” đã xuất hiện.
Phần diễn Nôm trong bộ ván khắc “Cổ Châu lục” gồm 2.360 chữ, do Viên Thái (chưa xác định rõ lai lịch) thực hiện. Điều đặc biệt là, cách viết chữ Nôm trong bản khắc in có cả chữ giả tá ghi âm thuần tuý, lẫn chữ hình thanh nửa biểu âm nữa biểu ý, song nhìn chung, chữ giả tá ghi âm thuần tuý vẫn chiêm ưu thế. Có không ít những chữ mà ở các văn bản có niên đại muộn, đã hầu như chuyển hẳn sang lối viết gồm hai thành tố ghi âm và ghi ý (hình thanh), thì trong bản ván khắc này vẫn viết khá nhất quán theo lối giả tá ghi âm đơn thuần (chẳng hạn như, BA viết là 巴 Ba, TÊN viết là 先 Tiên, NAY viết là 尼 Ni…).
Không những thế, trong văn bản dịch Nôm của “Cổ Châu lục” có khá nhiều từ ngữ và cách diễn đạt cổ (như “Hay chưng thầy thửa ở” [biết được nơi ở của thầy] hay “Thực thời lỗi ấy chưng ai” [Chính thực thì lỗi ấy là do ai]...) và những tiếng cổ như 谷 “cóc”: biết, 沃 “óc”: gọi, 合 “hợp”: nên, 羅𥒥 “la-đá”: đá… Tình hình viết chữ và dùng chữ như vậy là khá phổ biến trong văn xuôi diễn Nôm ở thế kỷ XVI và XVII. Riêng từ “la-đá” 羅𥒥 , chỉ có thể tìm thấy ở các văn bản chữ Nôm từ thế kỷ XVII về trước, muộn nhất là trong “Từ điển Việt-Bồ-La” của A. de Rhrodes (1651). Sang đến thế kỷ XVIII, trong “Từ điển Việt-La” viết tay (hoàn thành năm 1773) của Pigneau de Béhaine đã không có mặt từ song tiết “la-đá” nữa, mà chỉ còn là từ đơn tiết “đá” như ngày nay. Từ cách “dịch đuổi” từng câu đối với nguyên tác chữ Hán và cách viết chữ song tiết như trên, bản diễn Nôm của tác phẩm “Cổ Châu lục” được nhận định là đã hình thành vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.
“Cổ Châu hạnh”: Lục bát chữ Nôm
“Cổ Châu hạnh” gồm 246 cặp lục bát khoảng 3.450 chữ, tác giả của tác phẩm văn vần lục bát bằng chữ Nôm này cũng không rõ là ai, song có một vài chi tiết từ trong tác phẩm này giúp người ta có căn cứ để đoán định niên đại của nó. Trước hết, đó là niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) dưới triều vua Lê Thánh Tông, được nhắc đến cuối tác phẩm, sau đó không còn nhắc đến triều đại nào nữa. Sau nữa, tác giả gọi nước Trung Hoa thời xưa là Đại Minh, theo cách gọi tên nước thời nhà Minh (1368-1640). Chỉ có người đương thời mới quen cách gọi tên đất nước sát liền phía Bắc biên giới nước Đại Việt như vậy. Từ đó có thể suy ra, “Cổ Châu hạnh” không thể ra đời muộn hơn năm 1644 và cũng không thể có mặt sớm hơn năm 1470. Tuy nhiên đây là một giới hạn thời gian quá rộng. Có lẽ là “Cổ Châu hạnh” khó có khả năng xuất hiện trước bản diễn Nôm trong “Cổ Châu lục”, mà rất có thể là đồng thời hoặc sau một chút, tức là cũng vảo vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.
“Cổ Châu nghi”: Văn cúng Phật tổ
Toàn văn “Cổ Châu nghi” gồm hơn 1.500 chữ Hán viết theo lối văn ngôn, căn cứ vào những dòng chữ khắc ngay ở tấm ván khắc đầu tiên của tác phẩm, bên dưới tên tác phẩm, có thể nhận biết rằng “Cổ Châu nghi” vốn cũng là những văn bản chữ Hán đã được soạn ra từ thời xưa, nhưng không rõ cụ thể từ thời nào. Công việc san khắc “Cổ Châu nghi” tại chùa Dâu được hoàn tất vào năm Nhâm Tý, niên hiệu Quang Trung 5 (tức năm 1792), dưới triều Tây Sơn Nguyễn Huệ.
Trở về sau quên lãng
Từ những năm còn chiến tranh, một số nhà nghiên cứu đã biết đến kho ván khắc ở chùa Dâu. Mặc dù vậy, cho đến thời điểm nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm phát hiện ra kho ván khắc di văn chùa Dâu, tức là vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, kho ván khắc này vẫn hầu như chưa được khảo sát giới thiệu và vẫn nằm im trong tình trạng như khi được phát hiện.
Năm 1995, bộ ba ván khắc Cổ Châu cùng một số văn bản liên quan đã được công bố trong cuốn sách “Di văn chùa Dâu”, do GS. Nguyễn Quang Hồng chủ biên, đánh dấu sự trở về của những di sản từng chìm khuất trong bụi thời gian.
(Theo “Bộ ba ván khắc ‘Cổ Châu’ và di văn Hán Nôm chùa Dâu” trong sách “Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn” của GS. Nguyên Quang Hồng)