Bộ sưu tập
Khám phá kho lưu trữ số - nơi dành riêng cho việc bảo tồn và nghiên cứu học thuật về di sản lịch sử, văn hóa & tư tưởng Việt Nam.
Bộ sưu tập Hán-Nôm
Bộ sưu tập Hán-Nôm
"Bộ sưu tập Hán-Nôm" là một thư viện số đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu Hán-Nôm ở Việt Nam. Quỹ Bảo tồn chữ Nôm Việt Nam khởi xướng dự án này với sự cộng tác của các tổ chức khác như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cũng như Thư viện Quốc gia Việt Nam. Bộ sưu tập Hán-Nôm bao gồm tất cả các văn bản Hán-Nôm, văn khắc Siddham (tiếng Phạn), hình chạm khắc trên cổng, và tấm bảng thánh đường tại một trong những ngôi chùa Phật giáo lâu đời nhất và quan trọng nhất ở Việt Nam, đó là chùa Thắng Nghiêm. Ngoài ra bộ sưu tập còn tổng hợp các văn bản Hán Nôm được số hoá bởi Thư viện quốc gia Việt Nam và Hội Bảo tồn chữ Nôm Việt. Trang web Bộ sưu tập Thư viện Kỹ thuật số (Digital Library Collections) của Đại học Columbia hiện đang lưu trữ bộ sưu tập này. Trang web Digitizing Việt Nam đóng vai trò như một trung tâm kỹ thuật số để người dùng truy cập Bộ sưu tập Hán-Nôm này. (Sắp ra mắt)
Truyện Kiều
Truyện Kiều
Bộ sưu tập Truyện Kiều cung cấp một kho tư liệu phong phú bao gồm các văn bản có thể tra cứu và những hình ảnh chất lượng cao của các ấn bản khác nhau của Truyện Kiều từ năm 1866. Là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam, Truyện Kiều đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa và tái bản, phản ánh sự thay đổi trong đời sống văn hóa và tư tưởng của dân tộc. Một điểm nhấn đặc biệt của bộ sưu tập là ấn phẩm hiếm về bộ phim Kim Vân Kiều (1923) – tác phẩm điện ảnh đầu tiên của Việt Nam. Tài liệu này giúp người xem hiểu rõ hơn về cách Truyện Kiều được chuyển thể lên màn ảnh, đồng thời thể hiện vai trò của tác phẩm trong việc định hình bản sắc dân tộc. Với sự kết hợp giữa văn bản, hình ảnh và tư liệu đa phương tiện, bộ sưu tập này mời gọi độc giả khám phá sức sống bền bỉ của Truyện Kiều qua nhiều cuộc "bể dâu" của lịch sử Việt Nam.
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư" còn lại đến ngày nay là một bộ Quốc sử lớn, có giá trị, lần đầu tiên được khắc in toàn bộ và công bố vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông, tức năm 1697. Trong lời tựa của lần xuất bản đó - gọi là Tựa Đại Việt sử ký tục biên - nhóm biên soạn đứng đầu là Tham Tụng, Hình bộ thượng thư tri Trung thư giám Lê Hy, cho biết bộ Quốc sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều đời. Vì vậy, bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư" là một công trình tập đại thành nhiều bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ, đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung hưng, cùng những người cộng sự với họ. Theo bản in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697) mang danh hiệu bản in Nội các quan bản - từ đây gọi tắt là bản Chính Hoà - bộ sử này gồm quyển thủ 24 quyển, biên chép một cách hệ thống lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng đến năm 1675. Bản khắc Chính Hòa (khắc in năm 1697) không chỉ có giá trị về nội dung lịch sử, mà còn là một di sản văn hóa vô giá, phản ánh trình độ khắc in, ngôn ngữ học, và tư tưởng chính trị - đạo lý Nho giáo đậm nét của xã hội Việt Nam thời kỳ hậu Lê. Đây cũng là bản in cổ duy nhất còn lưu truyền đầy đủ cho đến nay, được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao, xem như nguồn tư liệu nền tảng trong việc tìm hiểu lịch sử và văn hóa Đại Việt trung đại. Hiện nay, bản khắc Đại Việt Sử ký Toàn thư thời Chính Hòa đang được lưu giữ tại Thư viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Bản số hoá có thể tra cứu của bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư" năm Chính Hoà thứ 18 này được thiết kế và thực hiện bởi Văn phòng Nôm Na (Hà Nội), gồm các cộng sự: Tô Trọng Ðức, Vũ Xuân Lương, Lê Văn Cường, Lương Thị Hạnh, và Ngô Thanh Giang, dưới sự chỉ đạo của Giáo sư John Balaban, học giả Ngô Thanh Nhàn và Tiến sĩ Ngô Trung Việt. (Sắp ra mắt)
Quốc âm Thi tập
Quốc âm Thi tập
"Quốc âm Thi tập" là tập thơ chữ Nôm trứ danh của đại thi hào Nguyễn Trãi (1380–1442), một trong những tác phẩm quan trọng bậc nhất trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam. Được sáng tác bằng tiếng Việt viết bằng chữ Nôm, tập thơ không chỉ thể hiện tư tưởng yêu nước, nhân nghĩa và đạo lý làm người của Nguyễn Trãi, mà còn đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ văn chương. Nhằm bảo tồn và lan toả giá trị văn học dân tộc, Văn phòng Nôm Na (Hà Nội) đã thực hiện số hoá toàn bộ "Quốc âm Thi tập", cung cấp phiên bản có chú giải, chuyển ngữ và công cụ tra cứu linh hoạt. Bản số hoá này là nguồn tài nguyên quý giá dành cho học giả, sinh viên và những người yêu văn học Việt, góp phần đưa di sản chữ Nôm đến gần hơn với công chúng đương đại.
Chinh phụ Ngâm khúc
Chinh phụ Ngâm khúc
Đặng Trần Côn là tác giả của "Chinh phụ Ngâm" – một kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Cho đến nay, tiểu sử của Đặng Trần Côn vẫn còn nhiều điều chưa được biết rõ, chẳng hạn như năm sinh và năm mất cụ thể. Các nhà nghiên cứu ước đoán ông sinh khoảng từ năm 1710 đến 1720 và mất năm 1745, sống dưới thời vua Lê – chúa Trịnh. Quê hương của Đặng Trần Côn là làng Nhân Mục, còn gọi là làng Mọc, huyện Thanh Trì. Ngày nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông từng đỗ thi hương nhưng không đỗ kỳ thi hội. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Giáo thụ và tri huyện Thanh Oai. Về sau, ông được thăng chức làm Thị giảng. Về Đặng Trần Côn, còn lưu truyền một vài giai thoại. Tương truyền rằng chúa Trịnh Giang cấm dân chúng thắp đèn, đốt lửa. Vì vậy, ông phải đào một đường hầm dưới lòng đất để đốt đèn học tập. Khi bắt đầu sáng tác thơ, ông đưa cho Đoàn Thị Điểm xem. Bà cười và nói rằng: “Anh nên học thêm rồi hãy làm thơ.” Sự ra đời của "Chinh phụ Ngâm" đã gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời. Tác phẩm thể hiện tiếng lòng sâu sắc của người vợ có chồng ra nơi biên ải. Nỗi nhớ thương, sự chờ đợi, nỗi cô đơn và khát vọng đoàn viên trong chiến thắng được gửi gắm qua những vần thơ đầy cảm xúc và chạm đến trái tim người đọc. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán vào thời điểm chữ Nôm đang phát triển mạnh, do đó nhiều người đã tìm cách chuyển ngữ sang chữ Nôm. Có nhiều bản dịch và phỏng dịch của các tác giả như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn, Phan Huy Ích. Trong số đó, có một bản dịch được xem là hay nhất, thường được sử dụng hiện nay. Tuy nhiên, tác giả thực sự của bản dịch này vẫn là một vấn đề còn gây tranh cãi. Có người cho rằng đó là Đoàn Thị Điểm, trong khi một số khác lại khẳng định là Phan Huy Ích. Quỹ Bảo tồn Di sản Chữ Nôm Việt Nam (VNPF) đã số hóa và giới thiệu một phiên bản trong “Thư viện số sách Hán Nôm” – kết quả hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam (NLV) và Quỹ Bảo tồn Di sản Chữ Nôm Việt Nam (VNPF), với mã số tài liệu số hóa là nlvnpf-0064 và số hiệu thư viện là R.1560.
Thơ Hồ Xuân Hương
Thơ Hồ Xuân Hương
Bộ sưu tập "Thơ Hồ Xuân Hương" giới thiệu đến bạn đọc tiếng nói táo bạo và độc đáo của Hồ Xuân Hương (khoảng 1775–1820), một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam. Sống và sáng tác trong thời kỳ rối ren và suy tàn của chế độ phong kiến, bà đã phá vỡ khuôn mẫu khi chọn viết bằng chữ Nôm—chữ viết dân tộc—thay vì chữ Hán, ngôn ngữ chính thống của giới trí thức. Thơ của Hồ Xuân Hương kết hợp tài tình sự trang nhã của thể thơ Đường luật với lối chơi chữ đầy ẩn dụ và hàm ý nhục cảm. Qua hình ảnh đời thường như chiếc quạt, quả thị, hay chiếc xích đu, bà phơi bày những bất công về giới, tình dục và đạo đức giả dưới lớp vỏ thơ trang trọng và truyền thống. Dù đầy thách thức, bà vẫn được nể trọng nhờ tài năng thi ca xuất chúng. Tuy nổi loạn và châm biếm, thơ bà cũng thấm đẫm khát khao yêu thương, lòng trắc ẩn và tinh thần nhân văn.