Chữ Nôm - Dấu ấn Sáng tạo của Người Việt

Nguyễn Phương Trâm · 26 tháng 9, 2025
Chữ Nôm - Dấu ấn Sáng tạo của Người Việt

Chữ Nôm là một hiện tượng nổi bật trong lịch sử phát triển của nền văn hoá dân tộc Việt Nam. Nói một cách giản dị, đó là một thứ văn tự mượn hình hài và quy tắc tạo chữ của hệ thống chữ Hán để tạo chữ, ghi âm tiếng Việt, tất nhiên là với cả một sự sáng tạo tuyệt vời của ông cha ta. 

Vậy, Chữ Nôm hình thành từ khi nào? Đây là câu hỏi mà rất nhiều học giả đã bỏ bao công sức nghiên cứu để xác định. Có thể sớm nhất là ngay từ đầu Công Nguyên, khi chữ Hán được truyền bá vào Việt Nam, thì những chữ “Nôm” lẻ tẻ dùng để ghi tạm những tên đất, tên người, tên sản vật bản địa đã được tạo ra và ghi xen lẫn vào các văn bản chữ Hán. Nhưng điều này không có nghĩa là chữ Nôm, như một hệ thống văn tự biểu âm biểu ý cho tiếng Việt, đã được hình thành từ sớm như vậy. Từ chỗ những chữ Nôm lẻ tẻ được tạo ra một cách lâm thời, đến chỗ chế tác và định hình chữ Nôm thành một hệ thống văn tự, là một quá trình khá dài. Cho đến nay, qua nghiên cứu của các học giả, ta có thể khẳng định được là từ thời nhà Trần (thế kỷ XIII), chữ Nôm đã thực sự trở thành một thứ văn tự hẳn hoi với một khả năng hành chức độc lập. 

Nhìn quen mà lạ

Nhiều người chỉ đọc thông thạo chữ Hán, khi thoáng nhìn văn bản Nôm, cứ ngỡ có thể dễ dàng đọc hiểu. Nhưng càng đọc kỹ, họ càng ngạc nhiên: hóa ra mình chẳng hiểu gì cả! Điều này thực ra cũng dễ hiểu thôi. Bởi chữ Nôm, tuy mang dáng dấp chữ Hán, lại có cách tạo chữ vô cùng độc đáo. Ngoài các phương thức hội âm, hội ý, hình thanh quen thuộc, chữ Nôm còn được hình thành nhờ những liên tưởng, kết nối ngữ nghĩa, thậm chí nhờ cả cấu trúc “chìm – nổi” mà ít ai ngờ tới.

Cấu trúc chữ Nôm – vài “chìa khóa” giải mã

Về cấu trúc chữ Nôm, đã có nhiều học giả dày công nghiên cứu và đưa ra những sơ đồ về các loại cấu trúc. Ở đây, thay vì đi sâu vào sơ đồ, ta hãy cùng nhấn mạnh những điểm then chốt trong cách tiếp cận và  phân tích chữ Nôm:

Theo GS. Nguyễn Quang Hồng, với những chữ Hán được mượn nguyên vẹn vào văn bản chữ Nôm, đôi khi đọc nguyên âm Hán Việt cũng có khi đọc “chệch” một chút, thì ta sẽ không bàn tới cấu trúc của những chữ “Nôm giả tá” như vậy nữa. Tuy nhiên, nếu một chữ Hán được mượn làm chữ Nôm với một phép “gia giảm” nào đó thì chữ đó chính là đối tượng quan trọng của việc phân tích cấu trúc chữ Nôm. Ví dụ của trường hợp “giảm” có thể nhắc tới là chữ Một 殳, có thể được truy nguyên từ chữ “một” 没 nhưng bị giản lược đi một thành phần; trong khi đó, trường hợp “gia” thì có chữ Đĩ 𡚦, là do chữ “nữ” 女 thêm một cái “chấm” mà thành.

Bên cạnh đó, việc phân tích cấu trúc chữ Nôm tự tạo theo cơ chế phiên ghép chứ không phải gia giảm như trên thì phức tạp hơn. Khi tiếp xúc với văn bản Nôm, chúng ta sẽ bắt gặp những chữ Nôm không hề có mặt trong hệ thống chữ Hán, và đây chính là những đặc điểm giúp chữ Nôm khu biệt với chữ Hán. Ở đây, theo GS. Nguyễn Quang Hồng, ta cần lưu ý những hiện tượng như sau: 

1. Những chữ Nôm gồm hai thành tố đều là biểu âm, có thể gọi là chữ Nôm hội âm. Ví dụ như: Trăng/Giăng < blăng 𢁋 (巴 ba+ 陵lăng), Trước 𨎟< klươc (略 lược + 車 cư), khi người Việt dùng chữ Hán để ghi tiếng Việt thế kỷ XVII về trước, lúc đó, tiếng Việt còn nhiều tổ hợp phụ âm kép như bl, ml, tl… 

2. Những chữ Nôm với bộ thủ không thể nào giải thích được sáng rõ nếu không tìm cách vượt ra khỏi bản thân chữ vuông chính thống, mà phải liên hệ nó theo quan hệ liên kết ngang trong văn bản hoặc quan hệ liên tưởng dọc trong hệ thống văn tự. Chẳng hạn như ta bắt gặp bộ “túc”𧾷 trong chữ Lỡ (𧾷+ 呂ở câu “Tối tăm lỡ bước đến đây” (Lục Vân Tiên). Tại sao chữ Lỡ lại có bộ thủ là bộ “túc” 𧾷 bên cạnh chữ Lữ 呂 biểu âm mà không phải là một bộ thủ khác "hợp lí" hơn? Thật khó giải thích được nếu như ta không đặt nó vào mối liên kết ngang với chữ Bước 𨀈 (𧾷+北) ngay sau đó. Sự liên kết bộ thủ như thế là có tính lâm thời, vào những văn cảnh khác, chữ Lỡ hoàn toàn có thể mang những bộ thủ khác thích hợp hơn. Lại có trường hợp như chữ Gần𧵆, thường được viết với bộ “bối” 貝, ý niệm về “gần” lại dùng bộ “bối” để ghi, thật khó lòng hình dung nổi. Nhưng khi ta liên hệ Gần với Xa (hai tiếng trái nghĩa trong cùng một trường nghĩa) thì mọi thứ lại trở nên sáng tỏ, chữ Xa 賒 trong văn bản Nôm là mượn chữ Hán Xa 賒 (có nghĩa là mua chịu, trả sau). Vì chữ Xa có bộ “bối” 貝 nên chữ Gần dĩ nhiên cũng có thể mang bộ “bối”貝 trong quan hệ liên tưởng với Xa

3. Một cấu trúc nữa của chữ Nôm, rất lấy làm “bí hiểm” (theo cách nói của GS. Nguyễn Quang Hồng), đó là cấu trúc chìm - nổi trong chữ Nôm tự tạo. Ví dụ như chữ Mười/Mươi: ngoài những chữ như 𨒒 ta còn bắt gặp những chữ khác như 辻 hay 𨑮. Thật khó giải thích được tại sao bộ “xước” ⻍  lại có mặt ở đây trong các chữ viết tắt nếu không liên hệ nó với bộ “xước” trong chữ “mại” 迈 biểu âm ở dạng chữ đầy đủ hơn. Ở đây, bộ phận bị lược đi là bộ phận biểu âm, nhưng để lại bộ thủ. Chính hiện tượng này trong cấu trúc chữ Nôm tự tạo đã khiến học giả Nguyễn Quang Hồng nghĩ đến sự phân định cấu trúc nổi và cấu trúc chìm của chữ Nôm. Cấu trúc nổi là cấu trúc hình thức, theo cách này, trong chữ Mười/Mươi 辻 hay 𨑮, cấu trúc nổi chính là bộ “xước” ⻍+ “thập” 十 hay 什 còn cấu trúc chìm chính là một nửa của chữ mại 迈 với vai trò là bộ phận biểu âm. 

Còn có khá nhiều những khía cạnh và hiện tượng khác liên quan đến vấn đề cấu trúc chữ Nôm. Trên đây chỉ là nhấn mạnh vào những gì làm nên đặc thù của chữ Nôm, và những điều này sẽ giúp người tiếp xúc với văn bản Nôm có thêm những chiếc chìa khoá để “giải mã” những chữ Nôm có cấu trúc lạ. 

Từ những phân tích trên, ta cũng có thể thấy được tính “bất ổn định” của chữ Nôm song cũng thấy được sự sáng tạo, cơ động và linh hoạt của tiền nhân khi kiến tạo và sử dụng hệ thống văn tự độc đáo này.

(Theo Một số vấn đề và khía cạnh nghiên cứu chữ Nôm trong tuyển tập Ngôn ngữ. Văn Tự. Ngữ văn của GS. Nguyễn Quang Hồng)