GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng & Trăm năm về Chốn tận cùng của Tiếng Việt

9 tháng 10, 2025
GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng & Trăm năm về Chốn tận cùng của Tiếng Việt

Chiều ngày 7.10.2025, GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng—người đã dành trọn đời nghiên cứu tiếng Việt và di sản Hán Nôm—đã về với cõi im lặng vô biên, nơi tận cùng huyền bí của mọi ngôn ngữ.

 

Với Giáo sư, thời gian sống là điều kiện quý báu để suy tư về một sáng tạo kỳ lạ mang tính bước ngoặt của con người: ngôn ngữ. “Tác giả đã ngồi bàn máy tính để soạn thảo chuyên luận này trong thời gian hơn một năm. Song thời gian mà tác giả theo đuổi những vấn đề đặt ra trong công trình tính ra đã hơn 20 năm,” GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng tâm sự về quá trình miệt mài đeo đuổi những câu hỏi lớn về tiếng Việt và chữ viết trong lời mở đầu của Khái luận văn tự học chữ Nôm. Hành trình nghiên cứu không ngơi nghỉ ấy đã kết tinh thành những công trình đồ sộ trong bộ sưu tập Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn của tác giả trên Digitizing Việt Nam, vốn chỉ là “phần nổi của tảng băng” tích tụ tầng tầng lớp lớp những suy ngẫm, khảo cứu và lao động khoa học cần mẫn qua nhiều thập kỷ: những trăn trở từ hệ thống đến chi tiết, từ ngữ âm đến văn chương, từ cổ chí kim - nhằm đi đến tận cùng câu chuyện tiếng Việt.

 

Trong sự nghiêm cẩn tuyệt đối với khoa học, tác giả rất hiếm khi nói về mình. Chặng đường rong ruổi  hẳn có nhiều đoạn khúc khuỷu khi đi vào những nơi "thâm sơn cùng cốc" của tiếng Việt, được Giáo sư tóm tắt vỏn vẹn trong hai câu: “Tác giả là người làm ngôn ngữ học, rồi cùng với ngôn ngữ học đi vào nghiên cứu chữ Nôm và các văn bản tác phẩm Hán Nôm. Vậy nên nhìn một cách tổng quan, tác giả là người nhiệt thành theo đuổi công việc của ngữ văn học nước nhà.”

 

GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng sinh năm 1940 tại làng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Giai đoạn 1960–1965 ông du học tại Bắc Kinh, tốt nghiệp Cử nhân Ngữ văn (Đại học Bắc Kinh, 1965). 1970–1974: học nghiên cứu sinh tại Moskva, bảo vệ Phó Tiến sĩ Ngữ văn (Đại học Quốc gia Moskva và Viện Đông phương học Liên Xô, 1974). 1982–1985: thực tập sinh khoa học và bảo vệ Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn. Ông được Nhà nước phong Phó Giáo sư năm 1984 và Giáo sư năm 1991.

 

Bộ sưu tập Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn tập hợp các chuyên luận nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học, văn tự học và ngữ văn học của GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng. Trong đó, Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca là chuyên luận do GS. Nguyễn Quang Hồng viết cùng TS. Phan Diễm Phương. Nội dung các chuyên luận đa dạng, chạm tới nhiều hiện tượng và vấn đề khác nhau, có thể quy về hai nhóm chính: (1) Ngôn ngữ học và nghiên cứu Việt ngữ; (2) Ngữ văn học và nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu đã được số hoá trong kho của dự án Digitizing Vietnam bao gồm:

 ❃ Âm tiết và loại hình ngôn ngữ

 ❃ Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn

 ❃ Khái luận văn tự học chữ Nôm

 ❃ Truyền kỳ mạn lục giải âm

 ❃ Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca

 ❃ Di văn Chùa Dâu: Cổ Châu lục - Cổ Châu hạnh - Cổ châu nghi

 

KHẮC HỌA CHÂN DUNG TIẾNG VIỆT TRONG NGÔN NGỮ HỌC: KHI CẢM THỨC NGÔN NGỮ DẪN ĐƯỜNG TƯ DUY KHOA HỌC

 

Nhìn vào công trình ngôn ngữ học tiếng Việt của GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng, ta không chỉ thấy những kết quả nghiên cứu đầy sức nặng có ảnh hưởng sâu rộng liên ngành, mà còn thấy cả một quá trình so sánh – đối chiếu công phu các vận động bên trong ngôn ngữ cũng như giữa các ngôn ngữ, để tìm đúng “khung” phân tích tiếng Việt. Ở đó không chỉ có sự tham khảo rộng rãi những mô hình ngôn ngữ đã có, mà còn có sự dẫn dắt của một “cảm thức ngôn ngữ” nhạy bén, truy tìm cách thức tái hiện khoa học một hiện thực tâm lý ngôn ngữ từ bên trong, thay vì máy móc áp đặt một mô hình ngôn ngữ phổ biến.

 

GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng đã xác lập âm tiết mang thanh điệu (syllabeme) mới là đơn vị tối thiểu có khả năng biểu hiện nghĩa của tiếng Việt hiện đại; cấu trúc âm tiết được nhìn theo lưỡng phân âm đầu – vần cái (vần = hạt nhân + âm cuối), còn thanh điệu và âm đệm là thuộc tính toàn âm tiết. Từ khung này, ông đặt tiếng Việt vào bối cảnh so sánh–loại hình với các ngôn ngữ Đông–Đông Nam Á có thanh điệu (Việt–Mường, Tày–Thái, Hán, Tạng…), xem âm tiết là trung tâm và phân tích tỉ mỉ ba thành phần âm đầu – vần – thanh; đồng thời kết nối ngữ âm học với thi pháp học khi dùng dữ liệu thơ (đặc biệt Truyện Kiều) để kiểm chứng quy luật hiệp vần, phân biệt vần chính/vần thông và mỹ cảm “hòa âm”.

 

So sánh với tiếng Hán, ông chỉ ra khả năng phân lập nội bộ của âm tiết ở tiếng Việt hiện đại (và Hán trung đại) rõ hơn Hán Bắc Kinh hiện đại. Ở Việt ngữ, các thao tác lặp láy (nhí nhảnh, bồi hồi…) và nói lái/hoán vị rất phát triển; trong Hán trung đại có hiện tượng tương ứng là “phản thiết ngữ”, nhưng Bắc Kinh hiện đại thiên về lặp toàn bộ âm tiết (manmanr, lanlande…), làm giảm các biến đổi cục bộ bên trong âm tiết. Khi đọc các ví dụ so sánh tỉ mẩn của Giáo sư, độc giả dường như bước vào một phòng thí nghiệm ngôn ngữ, nơi các âm tiết đa dạng bóc tách và vận động liên hồi dưới sự quan sát say mê của một nhà khoa học.

 

KHẢO CỨU CHỮ NÔM: KẾT NỐI VỚI TRÍ TUỆ VÀ TẤM LÒNG CỦA BAO THẾ HỆ

 

Không thể nhắc đến GS. Nguyễn Quang Hồng mà không nhắc đến những công trình nghiên cứu chữ Nôm nay đã thành kinh điển, như Khái luận Văn tự học Chữ Nôm hay Từ điển Chữ Nôm Dẫn Giải.

 

Khái luận văn tự học chữ Nôm là công trình nền tảng của GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng về văn tự học chữ Nôm theo hướng ngôn ngữ học lịch sử – văn tự học so sánh – văn bản học. Sách xác lập hệ khái niệm xuất phát (ngôn ngữ/văn tự; “tục tự”, “thổ tự”, “phương tự”, “chữ Hán phi thường quy”; “chữ Nôm” là gì), đặt chữ Nôm trong bức tranh các hệ chữ cổ truyền ở Việt Nam (Chăm, Thái; Nôm Dao, Nôm Ngạn, Nôm Tày…), và truy nguyên nguồn gốc – điều kiện hình thành của Nôm qua tiếp xúc Việt–Hán, âm Hán–Việt, dấu tích văn khắc thời Lý, cùng các giả thuyết về thời điểm xuất hiện. Trên nền ấy, tác giả trình bày mẫu hình chữ Hán (cấu trúc, phép tạo chữ, ngữ tố), đối chiếu đặc trưng loại hình của chữ Nôm với các văn tự theo hình mẫu chữ Hán, đồng thời phân biệt chữ Hán mượn dùng và chữ Nôm tự tạo, đề xuất bảng phân loại tổng quát cho chữ Nôm Việt. Còn Tự điển chữ Nôm dẫn giải là một bước tiến lớn trong nghiên cứu và giảng giải chữ Nôm, làm sáng rõ sức sáng tạo và tinh thần tự chủ của người Việt trong ngôn ngữ. Dựa trên 124 tác phẩm/văn bản cổ, mỗi mục từ đều có xuất xứ rõ ràng, kèm ví dụ ngữ cảnh minh hoạ.

 

“Tiếp xúc với di sản Hán Nôm, chúng ta đồng thời cũng tiếp xúc với trí tuệ và tấm lòng của bao thế hệ cha ông trên khắp mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta trước đây.” Giáo sư nhấn mạnh, “ngôn ngữ và cùng với nó là văn tự, không đơn thuần là phương tiện truyền tin, mà còn là phương tiện chuyển tải văn hóa, đặc biệt là chuyển tải văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc.” Việc nghiên cứu chữ Nôm, đối với ông, không chỉ là một say mê khoa học, mà còn là một sứ mệnh kết nối, để các thế hệ người Việt có thể thấu cảm trí tuệ cũng như sự sáng tạo độc đáo của tổ tiên vượt ngoài biên giới thời gian.

 

GIẢI ĐỐ ĐỜI THƯỜNG VỚI TRÍ TUỆ HÀN LÂM: CHUYỆN I NGẮN Y DÀI

 

Bên cạnh những công trình nghiên cứu hàn lâm, GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng là một cây bút hóm hỉnh, duyên dáng chuyên giải đáp những khúc mắc ngôn ngữ đời thường. Một trong những tiểu luận được nhiều người yêu thích là câu chuyện I ngắn Y dài. Chuyện bắt nguồn từ lá thư của một kỹ thuật viên chuyên đánh máy vi tính thể hiện chữ cho đài truyền hình Bình Thuận. Anh băn khoăn không biết liệu nên viết là Công ti hay Công ty, vì đạo diễn bảo một đằng, trưởng phòng lệnh một nẻo, và liệu có quy luật nào không. 

 

Chuyện tưởng nhỏ mà không nhỏ, vì GS. Nguyễn Quang Hồng trả lời tường tận đến hơn bốn trang giấy, cẩn mẩn đi từ quy định của Bộ giáo dục (âm tiết có nguyên âm i cuối âm tiết thì viết bằng i, trừ uy, như duy, tuy, quy)  đến những tập quán đã hình thành trước đó hàng thế kỷ (y dài trong từ Hán Việt, i ngắn dùng cho từ thuần Việt). Đối với câu hỏi của anh kỹ thuật viên, Giáo sư không áp đặt lên anh một gọng kìm đúng/sai mà thể hiện tầm nhìn bình thản của một nhà nghiên cứu đã đi đủ sâu vào ngàn năm biến thiên của tiếng Việt để hiểu và tin vào sự linh hoạt bền bỉ của nó:  

 

“Tôi nghĩ là trong thực tiễn viết lách, ta không nên quá cứng nhắc, đòi hỏi phải áp dụng ngay tấp lự những gì đã phổ biến trong nhà trường. Vả lại, những gì ta đã học trong nhà trường hiện nay, cũng cần trải qua thử thách trong thực tiễn xã hội, rồi từ đó mới có thể tìm đến những chuẩn mực thích hợp hơn và hy vọng sẽ được mọi người chấp nhận. Nếu cần tôi cũng sẵn sàng viết ... “công ty”, phù hợp với “gu” của thủ trưởng cơ quan bạn, mà có thể cũng là ý muốn của công ty đang là đối tác của cơ quan bạn đấy thôi!”

 

Tuy nhiên, Giáo sư cũng nhắc khẽ anh khi thấy anh viết "qui định" thay vì “quy định”: “Riêng trường hợp chữ Quy, không rõ tại sao bạn lại bắt chước một số người khác viết là Qui. Đành rằng viết quy hay qui thì vẫn đọc là "q+uy", nhưng viết với -ui là đi chệch ra ngoài dãy những tiếng đều có vần -uy: duy, huy, luy, tuy, suy, nguy, v.v.” Sự nghiêm cẩn của một nhà ngôn ngữ học khiến Giáo sư ngay lập tức bắt lấy một “lỗi sai” không phải so với các quy ước ngoại tại, mà lệch khỏi những vận động nội tại của ngôn ngữ. “Với trường hợp này thì cho dù sếp của tôi có dọa trừ lương hay đuổi việc thì tôi vẫn cứ viết là Quy chứ nhất quyết không chịu “ngắn hoá” thành Qui đâu nghe,” Giáo sư hóm hỉnh nhắc anh kỹ thuật viên về việc gìn giữ tiếng Việt, không quên thêm hai chữ “đâu nghe” để kết thư như vừa mới nhắc nhở tâm tình với một người bạn. Trong một công trình mực thước, hàn lâm như Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn, lá thư và hai chữ “đâu nghe” dường như hé lộ một gương mặt khác của tác giả - gần gũi, thân tình, giản dị của một người Việt yêu tiếng Việt.   

 

Những “lời quê chắp nhặt dông dài” trên đây cũng khó lòng khắc họa trọn vẹn một hành trình dấn thân rong ruổi của GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng, người đã đi về chốn tận cùng của ngôn ngữ, chạm đến ranh giới hữu hạn của một kiếp người. Nhớ đến từ "trăm năm" trong câu Kiều “Trăm năm trong cõi người ta”, ý chỉ nôm na một đời người ở trần thế, ta thấy chữ “trăm” được viết bằng bộ bách 百 đặt cạnh bộ lâm 林, tức hữu hạn đặt cạnh vô hạn. Digitizing Việt Nam rất mong được cùng quý độc giả kết nối với bộ sưu tập hữu hạn này và trao cho công trình một “trăm năm” sức sống mới, để cùng đưa cái hữu hạn vể phía vô hạn.

 

👉Đọc Bộ sưu tập Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn:

https://www.digitizingvietnam.com/.../ngon-ngu-van-tu-ngu...

 

👉Đọc Tự điển chữ Nôm dẫn giải:

https://www.digitizingvietnam.com/.../tu-dien-chu-nom-dan...

 

❀ Digitizing Việt Nam xin được gửi lời tri ân sâu sắc tưởng niệm đến GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng (1940–2025) vì đã để lại cho hậu thế một di sản lớn.