Lực lưỡng và Vạm vỡ: GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng với Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ

Nguyễn Tuấn Cường · 11 tháng 3, 2025
Lực lưỡng và Vạm vỡ: GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng với Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ

1. Giải thưởng Nhà nước trao cho  một chuyên luận về chữ Nôm

Ngày 11/01/2017, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã  ký Quyết định số 104/QĐ-CTN tặng Giải  thưởng Hồ Chí Minh cho 9 công trình và  cụm công trình Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Quyết định số 105/QĐ CTN tặng Giải thưởng Nhà nước cho 7  công trình và cụm công trình KH&CN,  theo quy chế xét duyệt 5 năm một lần. Ngày 15/1/2017, tại Hội trường Bộ Quốc phòng (Hà Nội) đã diễn ra Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng  Nhà nước về KH & CN đợt 5 cho các  nhà khoa học ưu tú, tiêu biểu của cả nước. Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã  đến dự buổi lễ và trao tặng giải thưởng  cho các nhà khoa học được giải. Trong  bài phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước  ghi nhận: “Các công trình được tặng Giải  thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt này là  những công trình xuất sắc, tiêu biểu, được ứng dụng hiệu quả nhất, có ý nghĩa to lớn  trong việc bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế, trình độ khoa học và công nghệ của đất nước trong khu vực và trên thế giới”. 

Cũng trong buổi lễ, ông Chu Ngọc Anh - Bộ trưởng Bộ KH & CN, Chủ tịch  Hội đồng Giải thưởng cấp Nhà nước, cho biết: “Trong lĩnh vực khoa học xã hội và  nhân văn, là những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu về triết học, lịch sử và  ngôn ngữ, trong đó làm rõ tầm cao tư duy của dân tộc Việt cũng như các giá trị, hạn  chế và các bài học lịch sử quý báu mà ông cha ta để lại; là những nghiên cứu về chữ Nôm theo một khung lý thuyết mới, các thao tác tiếp cận mới, qua đó công trình  được giới nghiên cứu trong và ngoài nước nhiệt liệt đón nhận, sử dụng với tần suất  lớn trong các chuyên khảo nghiên cứu chữ Nôm, ngữ văn Hán Nôm ở Việt Nam cũng như nước ngoài hiện nay.” 

Trong các công trình và tác giả được vinh danh đợt này có chuyên luận Khái  luận văn tự học chữ Nôm (Nxb. Giáo dục, 2008) của GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng  - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện NCHN). Đây là sự ghi nhận xứng đáng ở cấp quốc gia đối với một chuyên khảo ở tầm cao lí thuyết  văn tự học của một nhà khoa học đầu ngành Hán Nôm cũng như ngôn ngữ văn  tự học. Viện NCHN từng có một số cựu cán bộ viên chức được trao Giải thưởng  Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, nhưng họ đều là những người công tác tại  Viện NCHN trong một thời gian không dài rồi chuyển sang đơn vị khác, và được  giải thưởng với tư cách cán bộ của đơn vị khác. Vì vậy, có thể coi đây là giải thưởng  Nhà nước đầu tiên được trao cho một nhà khoa học gắn bó phần lớn sự nghiệp với  Viện NCHN. Theo nghĩa đó, giải thưởng  cao quý này là một niềm vinh dự đối với  Viện NCHN, đồng thời cũng là động lực, là nguồn động viên để các cán bộ viên chức Viện NCHN nỗ lực hơn nữa để đóng góp cho sự nghiệp khoa học và  công nghệ.  

2. GS.TSKH Nguyễn Quang  Hồng: nhân vật học thuật “lực lưỡng” 

Dù sinh ra (1939) và làm việc tại  Việt Nam, nhưng Nguyễn Quang Hồng  lại có được cơ duyên đào tạo trường kì ở những trung tâm học thuật nước ngoài  ngay từ thủa sinh viên. Ông tốt nghiệp  Cử nhân Ngữ văn tại Đại học Bắc Kinh  (1965), tốt nghiệp Phó Tiến sĩ (nay là  Tiến sĩ) Ngữ văn tại Đại học Quốc gia  Moskva và Viện Đông phương học Liên Xô (1974), sau đó tốt nghiệp Tiến sĩ  khoa học Ngữ văn tại Đại học Quốc gia  Moskva (1985). Được đào tạo căn bản và thâu thái được tinh hoa của hai trung  tâm khoa học Ngữ văn Đông và Tây thời danh kể trên, ông đã cho ra đời những  công trình nghiên cứu ngữ văn Hán  Nôm và ngôn ngữ học không lẫn vào đâu được. Đặc điểm bao trùm của những công trình ấy là tính lí thuyết cao, vấn đề nghiên cứu được triển khai một cách  logic và hệ thống, lối hành văn chặt chẽ khoa học, nhưng không cố lên gân lên  cốt, mà nhiều lúc hóm hỉnh, hấp dẫn.  

Sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ và văn tự tại nhiều trường đại học và viện nghiên cứu chuyên  ngành, ông đã “trình làng” nhiều tác  phẩm then chốt: Văn khắc Hán Nôm Việt  Nam (chủ biên, 1992), Âm tiết và loại  hình ngôn ngữ (chuyên luận, 1994,  2001, 2012), Di văn chùa Dâu (chủ biên, 1996), Truyền kì mạn lục giải âm  (biên khảo, phiên chú, 2001), Tự điển  chữ Nôm (chủ biên, 2006), Kho chữ Hán  Nôm mã hoá (đồng chủ biên, 2008),  Khái luận văn tự học chữ Nôm (chuyên  luận, 2008), Tự điển chữ Nôm dẫn giải  (2 tập, 2014, gần 2.400 trang, công trình  cá nhân), Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca (viết cùng phu nhân là TS. Phan  Diễm Phương, đang in). Ông còn là tác giả của hơn 100 bài nghiên cứu công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành cả trong và ngoài nước. Ông cũng từng được mời  thuyết trình và giao lưu khoa học tại Hoa Kì, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore. 

3. Khái luận văn tự học chữ Nôm:  tác phẩm học thuật “vạm vỡ” 

Đặc trưng căn bản và tiên quyết của cuốn chuyên khảo này chính là tiền đề phương pháp luận lấy văn tự học làm  bản vị. Đây là điểm cốt yếu và khác biệt  của cuốn sách, bởi các chuyên khảo về chữ Nôm trước đây thường đặt vấn đề ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt lên trên vấn đề văn tự học khi tiếp cận kho tàng văn hiến chữ Nôm. Việc trả lại bản chất văn tự học cho hướng tiếp cận nghiên cứu chữ Nôm còn giúp cho cuốn sách, xét từ khía cạnh lịch sử văn hiến, khắc  phục được nhược điểm cố hữu trong  việc nghiên cứu chữ Nôm là thường quá  chú trọng tới những văn hiến có niên đại sớm, mà xao lãng những văn hiến có niên đại muộn, khoảng từ thế kỉ XIX  đến đầu thế kỉ XX.  

Từ tiền đề phương pháp luận trên, cuốn sách đã triển khai nghiên cứu một  cách hệ thống và mang đậm tính lí luận. Trong tình trạng việc nghiên cứu Hán  Nôm thường còn dừng lại ở mức độ miêu tả sự kiện, thì những nghiên cứu  mang tính lí luận chuyên ngành của  Nguyễn Quang Hồng lại hướng tới phân  tích, giải thích sự kiện, và đó chính là điểm sáng nổi trội mà một lối tư duy  thông thường nào đó hoàn toàn có thể phán rằng “những cái ấy ai chẳng biết!”.  Nhưng để khái quát hóa “những cái ai  chẳng biết” vốn lẻ tẻ và rời rạc ấy thành  một hệ thống mang tính lí luận như  những gì mà tác giả đã thực hiện trong  các công trình của mình (tất nhiên không loại trừ cuốn sách này) thì lại hoàn toàn  không phải là điều mà ai cũng làm được.  

Về nội dung, công trình này nghiên  cứu một cách có hệ thống và toàn diện  về những vấn đề chủ yếu đặt ra khi đi  vào tìm hiểu chữ viết cổ truyền của các  dân tộc Việt Nam, mà trọng tâm là chữ Nôm của người Việt. Nội dung chuyên  luận trình bày trong 6 chương và một  phụ chương. Ba chương đầu giới thiệu  các hệ thống văn tự cổ truyền ở Việt  Nam, tìm hiểu về nguồn gốc, sự hình  thành chữ Nôm và xác định đặc trưng  loại hình của nó trong sự đối chiếu với  chữ Hán và các văn tự khác có liên quan  trong khu vực. Hai chương Bốn và Năm  đi sâu xem xét cấu trúc chức năng và  cấu trúc hình thể của chữ Nôm Việt  cùng những diễn biến của chúng qua  thời gian. Chương cuối xem xét các  chức năng xã hội và môi trường hành chức của chữ Nôm, vai trò của nó bên  cạnh chữ Hán và chữ Quốc ngữ trong xã  hội Việt Nam, quá khứ và hiện tại.  Ngoài ra còn có một phụ chương để giới  thiệu một số ý tưởng của các bậc tiền  bối, mong muốn tạo lập các hệ thống  chữ Việt bằng nét bút lông, mang dáng  dấp của chữ Nôm, nhưng lại là văn tự ghi âm, cho thấy một nét đặc biệt trong  tư duy văn tự học của tiền nhân.

Cuốn sách là một thành tựu nghiên cứu có bề dày và chiều sâu, vừa có  “diện” vừa có “điểm”, chứa nhiều điều  mới mẻ dựa trên cơ sở tích lũy và tổng  kết tri thức khắp suốt xưa nay. Chính vì  vậy, ngay sau khi vấn thế, cuốn sách đã  được sử dụng làm tài liệu dạy học của  ngành Hán Nôm nói riêng và ngành ngữ văn học nói chung ở các bậc Đại học, Cao học, và Nghiên cứu sinh ở nhiều  đơn vị đào tạo.(1) 

Vì vậy, học giới không mấy ai ngạc  nhiên trước thông tin cuốn sách được  trao Giải thưởng Nhà nước, thậm chí có  người còn than tiếc cho rằng công trình  ấy xứng đáng được trao giải thưởng ở cấp cao hơn. Bởi học giới biết rằng, con  người ấy từ lâu đã khẳng định được tầm vóc tri thức và ảnh hưởng học thuật;  công trình ấy đã được thừa nhận về tầm  lí luận cũng như khả năng xây dựng  khung khổ.  

4. Những đạo hữu học thuật  

Học giới Việt Nam đã thừa nhận vị trí hàng đầu của hai tượng đài ngôn ngữ học: GS. Cao Xuân Hạo (1930-2007) và  GS. Nguyễn Tài Cẩn (1926-2011). Khi hai nhà khoa học trứ danh này lần lượt  khuất bóng, đã có nhiều bài viết kỉ niệm  về họ, mà hai bài “Hoài niệm...”(2) của  GS Nguyễn Quang Hồng nằm trong số những bài đáng đọc nhất, vừa tình cảm vừa khoa học, toàn diện mà chi tiết, khúc chiết, mạch lạc và thích đáng trong  đánh giá khoa học. 

Nguyên nhân để hai bài “Hoài niệm...”  ấy thành công, ngoài vốn tri thức chắc nịch  và tình cảm sâu nặng của người viết đối  với các đạo hữu, theo tôi, còn do sự tương  đồng về quan điểm tiếp cận khi nghiên cứu  ngôn ngữ văn tự học giữa ba nhà khoa học. Họ nằm trong số không nhiều người cùng  sớm nhận ra sai lầm của tư tưởng “Âu tâm  luận” (Eurocentrism) từng khá phổ biến  trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói riêng  và nghiên cứu khoa học nói chung ở Việt  Nam. Có lẽ chính vì vậy mà, trong danh  tác Âm vị học và tuyến tính (bản tiếng  Pháp năm 1985), GS Cao Xuân Hạo đã  nhận xét về một công trình năm 1974 của  GS Nguyễn Quang Hồng bằng những  dòng rất trân trọng, mang tính nhận đồng  trong tư tưởng phủ định “chiết đoạn luận”  kiểu Châu Âu, tức là phê phán việc sử dụng lí thuyết âm vị học Châu Âu vốn chỉ phù hợp với các ngôn ngữ khuất chiết vào  phân tích các ngôn ngữ đơn lập và chắp  dính ở phương Đông như tiếng Trung,  Việt, Nhật(3)

Đọc hai bài “Hoài niệm...” ấy, tôi thấy  tâm đắc với hai từ láy mà GS Nguyễn  Quang Hồng sử dụng. Ông phẩm bình hai  cuốn chuyên luận về ngữ âm và ngữ pháp  của GS Cao Xuân Hạo là "vạm vỡ", ông  lại đánh giá các chuyên luận của GS. Nguyễn Tài Cẩn là "lực lưỡng". Ngẫm  lại, cả ba nhà khoa học ấy dù có vóc  dáng nhỏ gầy, nhưng đều "vạm vỡ" và  "lực lưỡng" trong khoa học. Đó mới là  điều khó đạt tới. Thiết nghĩ, cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm của GS  Nguyễn Quang Hồng cũng đã đạt tới độ “vạm vỡ” và “lực lưỡng” như vậy, nên  tôi xin phép mượn dùng hai từ láy trên  để mô tả chính người đã từng sử dụng  chúng một cách đắc địa. Giải thưởng  Nhà nước này là sự khẳng định giá trị của cuốn sách và tầm vóc của nhà khoa  học từ phía giới quản lí khoa học và  công nghệ quốc gia, sau khi giới học  thuật đã khẳng định từ trước./

Chú thích 

Bài báo này được tác giả PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, viết năm 2017 khi GS. Nguyễn Quang Hồng được trao Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và công nghệ với tác phẩm Khái luận văn tự học chữ Nôm của mình. Bài báo được đăng trên tạp chí Hán Nôm số 1 (140) -2017, chúng tôi xin đăng lại bài báo này tại đây với sự đồng ý của tác giả PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường. 

(1). Xem thêm 3 bài điểm sách đã công bố:  (1) Nguyễn Tuấn Cường, “Đọc sách Khái luận văn tự học chữ Nôm” của GS.TSKH  Nguyễn Quang Hồng”, Tạp chí Hán Nôm, số 4/2009, tr. 74-78. (2) Đinh Khắc Thuân, “Đọc  sách Khái luận văn tự học chữ Nôm”, Ngôn  ngữ và Đời sống, số 5/2009, tr. 44-45. (3)  Trần Đình Sử, “Một đóng góp mới về nghiên  cứu chữ Nôm”, Văn nghệ, số 27 (2579), thứ Bảy ngày 4/9/2009.

(2). Xem: (1) Nguyễn Quang Hồng, “Hoài  niệm về anh Cao Xuân Hạo”, Ngôn ngữ và Đời  sống, số 11/2007, tr. 38-39 (bản điện tử:  http://ngonngu.net/?m=print&p=354). (2) Nguyễn  Quang Hồng, “Hoài niệm về Giáo sư Nguyễn Tài  Cẩn”, Từđiển học và Bách khoa thư, số2/2011, tr. 78- 84 (bản điện tử: http://khoavanhoc.edu.vn/tintuc sukien/878-gstskh-nguyn-quang-hng).

(3). Cao Xuân Hạo, Âm vị học và tuyến  tính: Suy nghĩ về những định đề của âm vị học đương đại, Nxb. Đại học Quốc gia Hà  Nội, Hà Nội, 2001, tr. 303-306.