
Việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số có thể cung cấp cho những người làm công tác ngôn ngữ học những tư liệu hết sức quý giá để tìm hiểu và phát triển lý luận, phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, tìm hiểu lịch sử và quy luật phát triển của tiếng Việt và tiếng các dân tộc anh em, góp phần giải quyết những vấn đề ngôn ngữ do thực tiễn của đời sống đề ra. Việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam của viện Ngôn ngữ học vẫn luôn theo mục đích trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, nhiều bài ngôn ngữ được hoàn thành. Tập bài “Tìm hiểu Ngôn ngữ các Dân tộc Việt Nam” xuất bản năm 2009 là một phần những kết quả nghiên cứu nói trên. Đây là tập hợp các bài viết chủ yếu thuộc công trình nghiên cứu cấp Viện từ năm 2000 đến năm 2009, do phòng Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Viện Ngôn ngữ học chủ trì. Các bài viết tập trung vào các chủ đề như sau: (1) Ngữ âm - Tiếng địa phương - Chữ viết; (2) Lịch sử - so sánh; (3) Ngữ pháp; (4) Ngôn ngữ - xã hội.

Sách này giới thiệu về nghề thủ công truyền thống (hay còn gọi là nghề thủ công cổ truyền ở Việt Nam). Những nghề thủ công ấy kể cho chúng ta nghe những chuyện ngày xưa được lưu truyền đến ngày nay.

Sách này viết về ngôn ngữ của 54 dân tộc Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Sách được chia làm hai phần lớn: Phần 1 nói về đặc điểm ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam; Phần 2 bàn về tri thức bách khoa về ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam.

Dân tộc Mạ là một thành viên trong đại gia đình tổ quốc Việt Nam, họ từ lâu đã sinh sống trên dải đất Tây Nguyên hùng vĩ. Người Mạ có một vốn văn học nghệ thuật dân gian phong phú, mang bản sắc rõ rệt của dân tộc mình. Việc sưu tầm và xuất bản những truyện cổ tích Mạ có ý nghĩa giúp dân tộc Mạ nói tiếng nói của riêng mình, giúp các anh em dân tộc khác hiểu tính cách và tâm hồm Mạ. Cuốn sách này của tác giả Tạ Văn Thông có vì vậy ý nghĩa rất lớn trong việc giữ gìn truyền thống văn hoá dân gian của dân tộc Mạ nói riêng và của dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung.

Qua tập truyện cổ Cơ Ho, chúng ta có thể hình dung được phần nào tính chất phong phú và đa dạng của các cơ tầng văn hoá kế tiếp nhau, trao đổi, giao hoà với nhau, bồi đắp cho nhau trong lịch sử hình thành dân tộc lâu đời của các dân tộc ở Lâm Đồng và Tây Nguyên nói chung: từ lớp văn hoá nương rẫy vùng cao nguyên, đến lớp văn hoá vùng lúa nước, cho đến lớp văn hoá vùng ven biển. Bên cạnh các lớp văn hoá do tổ tiên các dân tộc ở đây sáng tạo nên, trong tiến trình lịch sử còn có sự trao đổi và hoà hợp các lớp văn hoá mới do người Chăm và người Việt mang đến. Kho tàng truyện cổ của người Cơ Ho và các di sản văn hoá của họ nói lên điều đó.

Nhiệm vụ đầu tiên mà chuyên luận này đặt ra là tổng kết và đánh giá những kết quả nghiên cứu trước đây về các khía cạnh khác nhau của ngữ âm Kơ Ho, xem xét lại những vấn đề đã được đưa ra mà chưa được giải quyết đầy đủ và thoả đáng. Nhưng mục đính chính của cuốn sách này là mô tả một cách đầy đủ và sâu sắc mặt ngữ âm ở trạng thái hiện nay, điều mà trước đây chưa có công trình nào thực hiện được. Đó là những đặc điểm của các âm tố lời nói, của âm tiết, và của đơn vị ngữ âm mà tác giả sách này gọi là “khuôn âm”; những biến thể ngữ âm qua so sánh các tiếng địa phương Kơ Ho, tính chất đa dạng phức tạp của những đặc điểm ngữ âm tự nhiên và việc xác định những đặc trưng cần yếu có giá trị khu biệt ký hiệu ngôn ngữ trong tiếng Kơ Ho.

Người Kháng là một cộng đồng cư trú ở vùng Tây Bắc Việt Nam, chủ yếu hai bên sông Đà. Với số người nói ít và cư trú tương đối phân tán, xen kẽ với các dân tộc khác, chỉ được sử dụng trong gia đình, làng bản, ở các thế hệ lớn tuổi, không được truyền dạy có tổ chức, chưa hình thành ngôn ngữ văn học, tiếng mẹ đẻ của người Kháng đang đứng trước nguy cơ mai một ở mức độ cao. Sách này trình bày kết quả nghiên cứu ngữ âm tiếng Kháng và đề xuất một hệ thống chữ viết cho người Kháng ở Việt Nam.

Đây là một công trình về “ngữ pháp” hiểu theo nghĩa rộng: miêu tả tiếng Hmông ở nhiều khía cạnh khác nhau. Để giúp người đọc hình dung một cách đầy đủ hơn về tiếng Hmông, ngoài các tri thức về ngữ pháp (từ, ngữ và câu), sách còn có những phần trình bày về lịch sử người Hmông và tiếng Hmông, về quan hệ cội nguồn, đặc điểm loại hình học, ngữ âm và chữ viết, tình hình phương ngữ, nguồn gốc các lớp từ trong tiếng Hmông. Sách cũng cung cấp một danh sách tư liệu tham khảo tương đối đầy đủ về các công trình nghiên cứu ngôn ngữ Hmông ở Việt Nam và trên thế giới cho đến thời điểm gần đây.

Với chuyên luận “Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn”, cố tiến sĩ Nguyễn Văn Tài là người đầu tiên khảo sát và miêu tả toàn diện ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn, từ đó phân chia thành ba vùng: Bắc (Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái), Trung (Hoà Bình và vùng lân cận) và Nam (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình). Tác phẩm dày 350 trang, kèm 3 phụ lục: giải pháp ngữ âm Việt – Mường, bảng so sánh gần 1000 từ của 30 thổ ngữ, và 34 lược đồ hiện tượng phương ngôn. “Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn” là công trình có giá trị lý luận và thực tiễn, hữu ích cho nghiên cứu tiếng Mường, lịch sử tiếng Việt, và xứng đáng có mặt trong tủ sách ngôn ngữ học.

Năm 1835, học giả nhà Thanh Thái Đình Lan (蔡廷蘭, 1801–1859) đang trên đường từ Phúc Kiến trở về quê nhà ở quần đảo Bành Hồ thì gặp bão lớn. Con thuyền bị cuốn khỏi hải trình và sau hơn một tuần lênh đênh trên biển đã dạt vào bờ biển miền Trung Việt Nam. Một tai nạn hàng hải bất ngờ từ đó trở thành hành trình kéo dài nhiều tháng qua Việt Nam dưới triều Minh Mạng. Thái Đình Lan ghi lại trải nghiệm ấy trong 《海南雜著》 (Hải Nam Tạp Trứ), xuất bản lần đầu năm 1837. Từ trang phục, ẩm thực, tín ngưỡng và chợ búa đến đường sá, địa lý và hoạt động của bộ máy chính quyền, tác phẩm đem đến một góc nhìn hiếm có về đời sống Việt Nam những năm 1830 qua con mắt của một học giả Trung Hoa. Đặc biệt thú vị là câu chuyện về chữ viết như một phương tiện vượt qua biên giới ngôn ngữ. Dù không nói được tiếng Việt, Thái Đình Lan có thể giao tiếp với các quan lại nhà Nguyễn bằng Hán văn thông qua bút đàm. Khả năng này giúp ông từ một người ngoại quốc trôi dạt đáng ngờ trở thành một sĩ nhân được giới quan lại Việt Nam tiếp nhận, trao đổi thơ văn và hỗ trợ trên đường trở về quê hương. Tác phẩm cũng hé mở một Việt Nam gắn kết sâu sắc với thế giới hàng hải Đông Á và Đông Nam Á, nơi các mạng lưới thương nhân, di dân Phúc Kiến và Quảng Đông, quan lại, học giả, văn bản và hàng hóa thường xuyên vượt qua những ranh giới chính trị ngày nay. Gần hai thế kỷ sau, Hải Nam Tạp Trứ đã có bản dịch tiếng Anh đầu tiên với nhan đề Miscellany of the South Seas: A Chinese Scholar’s Chronicle of Shipwreck and Travel through 1830s Vietnam, do Kathlene Baldanza và Zhao Lu dịch và giới thiệu, do NXB Đại học Washington xuất bản năm 2023. Đáng chú ý, bản dịch chủ yếu dựa trên một bản chép tay hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội, ký hiệu HVv.80. Từ một vụ đắm tàu năm 1835, một cuốn sách năm 1837, đến một văn bản được lưu truyền qua nhiều ngôn ngữ và nay có thể đọc trực tuyến trên toàn thế giới, hành trình của Hải Nam Tạp Trứ cũng đặc biệt không kém hành trình của chính tác giả của cuốn sách.



