Thơ Hồ Xuân Hương
Bộ sưu tập "Thơ Hồ Xuân Hương" giới thiệu đến bạn đọc tiếng nói táo bạo và độc đáo của Hồ Xuân Hương (khoảng 1775–1820), một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam. Sống và sáng tác trong thời kỳ rối ren và suy tàn của chế độ phong kiến, bà đã phá vỡ khuôn mẫu khi chọn viết bằng chữ Nôm—chữ viết dân tộc—thay vì chữ Hán, ngôn ngữ chính thống của giới trí thức. Thơ của Hồ Xuân Hương kết hợp tài tình sự trang nhã của thể thơ Đường luật với lối chơi chữ đầy ẩn dụ và hàm ý nhục cảm. Qua hình ảnh đời thường như chiếc quạt, quả thị, hay chiếc xích đu, bà phơi bày những bất công về giới, tình dục và đạo đức giả dưới lớp vỏ thơ trang trọng và truyền thống. Dù đầy thách thức, bà vẫn được nể trọng nhờ tài năng thi ca xuất chúng. Tuy nổi loạn và châm biếm, thơ bà cũng thấm đẫm khát khao yêu thương, lòng trắc ẩn và tinh thần nhân văn.
Tinh hoa Mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương
Tinh hoa Mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương – cái tên mang ý nghĩa “Tinh hoa mùa xuân” – là một trong những nữ thi sĩ đặc sắc và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Là một người phụ nữ sống trong xã hội Nho giáo đầy định kiến, bà đã khẳng định vị thế của mình bằng tài năng thơ ca hiếm có. Thơ của bà nổi bật với hình thức trang nhã theo luật Đường, nhưng nội dung đầy táo bạo, sử dụng lối nói bóng gió, hàm ý nhục cảm để phản ánh sâu sắc về bất công giới, đạo đức giả, và những mâu thuẫn trong xã hội đương thời. Ấn phẩm Spring Essence là một dấu mốc quan trọng trong việc giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương đến với độc giả quốc tế. Tác phẩm được trình bày theo hình thức tam ngữ đồ hình – gồm bản dịch tiếng Anh, bản chữ quốc ngữ hiện đại, và chữ Nôm. Dịch giả John Balaban, người đã hai lần được đề cử giải National Book Award, là một trong những học giả Mỹ có đóng góp nổi bật cho việc nghiên cứu và quảng bá văn học Việt Nam. Ông từng trở lại Việt Nam sau chiến tranh để ghi chép thơ ca dân gian, giúp bảo tồn truyền thống văn học truyền miệng của dân tộc. Đồng hành với ông trong dự án này là GS. Ngô Thanh Nhàn, chuyên gia ngôn ngữ tính toán tại Đại học New York, người đã số hóa thành công bộ chữ Nôm.
Bài viết chuyên đề
Thơ Hồ Xuân Hương: Âm vang giữa Tĩnh & Động, Cảm thức & Hiện thân
22 tháng 10, 2025
Thơ Hồ Xuân Hương: Âm vang giữa Tĩnh & Động, Cảm thức & Hiện thân

Việc Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” (chữ dùng của thi sĩ Xuân Diệu) có lẽ đã phản ánh được thi ca của bà có tầm ảnh hưởng sâu rộng và sức phản kháng mạnh mẽ như thế nào. Hồ Xuân Hương sinh ra vào khoảng năm 1772, cuối thời nhà Lê (triều đại kéo dài từ 1592-1788), và bà được cho là con gái của ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783) hay Hồ Phi Diễn (1703-1786) và mẹ bà là một người vợ lẽ. Với vị thế đó, Hồ Xuân Hương có lẽ không nhận được nền giáo dục chính quy như nam nhân, cũng khó lòng so với các công chúa trong triều đình. Thế nhưng, Hồ Xuân Hương đã sáng tác thơ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm (theo các tài liệu sưu tầm và ghi nhận thì có khoảng 150 bài), và đặc biệt nổi danh với thơ Nôm. 

 

Thay vì tuân theo các quy tắc ước lệ, các điển cố, điển tích như truyền thống thơ ca ở vùng văn hóa Hán quyển, việc sáng tác bằng chữ Nôm - thứ chữ ghi lại lời ăn tiếng nói nôm na của đời sống bình dị - cho phép Hồ Xuân Hương thoát ra khỏi những khuôn thước mẫu mực của Hán văn để cất lên tiếng nói cá nhân với bút pháp riêng. Nguồn thơ của bà phát xuất từ những điều gần gũi nhất trong cuộc sống, như là những “miếng trầu hôi”, “bánh trôi”, “quả mít trên cây”, “phận ốc nhồi”, “đám cỏ hôi”, cho đến những hình ảnh vừa cụ thể vừa trừu tượng như “cái hồng nhan” (trong “Tự tình”). Đó cũng là một trong những điểm đặc biệt ở thơ Xuân Hương khi bà có khả năng nắm bắt và diễn đạt một cách dân dã, dung dị những ý niệm tưởng chừng rất mơ hồ. Theo sách “Tự điển chữ Nôm dẫn giải” do GS Nguyễn Quang Hồng chủ biên, chữ “cái” 丐 có hơn 4 nét nghĩa khác nhau, vừa là từ để chỉ một sự vật được định danh, vừa là từ để chỉ giống cái (đối lập với giống đực), vừa là từ chỉ mẹ, hoặc để chỉ những thứ lớn hơn (như trống cái, đường cái). Nhưng “hồng nhan” 紅顔 lại gợi ra cảm thức mơ hồ hơn, có thể phác họa hình ảnh một người thiếu nữ đẹp, cũng có thể ngụ ý về nhân duyên (một nét nghĩa của chữ “hồng”). Và khi kết hợp “cái hồng nhan”, tính nữ được gợi ra với hiện thân và hình hài, nhưng đồng thời thật khó để đưa ra định nghĩa chính xác “cái hồng nhan” ấy là gì.

 

Mặc dù tựa đề của những bài thơ có thể gợi ra những sự vật hay khung cảnh tĩnh như “quả mít”, “cảnh thu”, “ốc nhồi”, “bánh trôi”, “con cua”,... song mỗi câu thơ đều là chuyển động. Thơ Xuân Hương không mô tả sự vật như một khách thể tĩnh lặng bị quan sát mà đặt góc nhìn hóa thân vào sự vật ấy, giành lấy thế chủ động ngay cả khi lời tâm tình có vẻ nhún nhường và khép nép: “Thân em thì trắng, phận em tròn” (“Bánh trôi”), “Thân em như quả mít trên cây” (“Quả mít”), “Em có mai xanh có yếm vàng / Ba quân khiêng kiệu, kiệu nghênh ngang” (“Con cua”). Hơn nữa, động từ cũng chiếm ưu thế trong mỗi dòng thơ, gợi ra cảm giác về tính chất của sự vật và sự uyển chuyển, sống động cùng một lúc, thậm chí nhiều khi hành động xô lấn lên trước rồi mới đến chủ thể, kiến tạo nên một không gian dấn thân và tràn trề sức sống: “Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán / Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ” (“Cảnh thu”).

 

Tính động ở trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương còn nằm ở sự chuyển dịch liên tục giữa những lớp nghĩa kép. Nhắc đến Hồ Xuân Huơng, nhiều người nghĩ ngay đến những câu thơ “đố tục giảng thanh” hoặc “đố thanh giảng tục”, tức là mượn những hình ảnh có vẻ tục tĩu để mô tả những giá trị hay sự vật gắn với ý niệm về sự thanh cao, và ngược lại. Nếu chỉ dùng chữ Nôm để nói về những điều gần gũi trong đời sống hằng ngày thì thơ của bà có thể không sống động đến vậy. Mượn những cảnh vật quen thuộc trong sinh hoạt và thiên nhiên, nữ sĩ gợi nên hình ảnh về sinh thực khí nữ và hành động tính giao: 

“Cầu trắng phau phau đôi ván ghép

Nuớc trong leo lẻo một dòng thông!

Cỏ gà lún phún leo quanh mép,

Cá giếc le te lách giữa dòng.”

 

Trong xã hội Nho giáo, khi vấn đề trinh tiết của người nữ gắn với ý niệm về đức hạnh, và chuyện tính dục là điều cấm kỵ, việc kiến tạo nên những tầng nghĩa kép đồng hiện là một cách thức phản kháng khéo léo đối với những khuôn khổ đè nén thân phận con người. Nói như thế không có nghĩa là thơ Hồ Xuân Hương chỉ đi giữa thanh và tục. Với ít nhất hai lớp nghĩa, thơ Xuân Hương đôi khi còn mạn bàn đến những vấn đề xã hội, tôn giáo, hay quốc gia (như chữ “nước non” trong bài “Bánh trôi”) gợi ra, kết nối những trăn trở ở cấp độ vĩ mô với gốc rễ văn hóa dân gian Việt Nam.

 

*Nguồn ảnh: Tranh của Họa sĩ Nguyễn Quốc Thắng & Nghiêm Nhan, đăng trên website VOV