
"Truyền kỳ mạn lục" là tập truyện ngắn tuyển chọn gồm 20 truyện của danh sĩ Nguyễn Dữ, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra từ đời Trần, đời Hồ đến đời Lê sơ, không gian trải dài từ Nghệ An trở ra Bắc. Các tác phẩm phác họa rõ nét quang cảnh đất nước và con người Việt Nam với đầy đủ tên tuổi, số phận của họ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể của nước nhà, lúc thì thấm đượm thế thái nhân tình, khi thì khí khái hào mại, khi thì lâm ly thống thiết, lại được phô diễn một cách điêu luyện bằng bút pháp vừa tự sự vừa trữ tình. Tương truyền Nguyễn Thế Nghi là người dịch tác phẩm Hán văn Truyền Kỳ Mạn Lục sang văn Nôm vào thế kỷ XVII. "Truyền kỳ mạn lục Giải Âm" là bản phiên âm của GS Nguyễn Quang Hồng từ bản dịch chữ Nôm của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. GS Nguyễn Quang Hồng trong quá trình phiên âm đã giữ nguyên các cấu trúc, quy tắc dùng từ của người Việt trong thời kỳ trung đại. Bên cạnh việc phiên âm, GS còn tiến hành chú giải các điển tích, điển cố và từ ngữ trong sách. Bởi vậy, tập truyện có giá trị cao về học thuật, không giống các bản Truyền kỳ mạn lục đang lưu hành chỉ đơn thuần là dịch từ Hán văn hoặc văn Nôm sang tiếng Việt hiện đại.

Cội nguồn đạo Phật ở Việt Nam vốn gắn liền với một sự tích vừa thần kỳ lại vừa hiện thực. Đó là câu chuyện kể về bà Man Nương thụ phép sư thầy Khâu Đà La (từ Ấn Độ sang vào buổi đầu Công nguyên), và trở thành Phật Mẫu trên đất Cổ Châu gần thành Luy Lâu xưa. Truyền thuyết dân gian đó từ bao đời nay đã ăn sâu vào tâm thức người Việt ở lưu vực sông Hồng, rồi được các nhà tri thức gia công thêm, viết thành văn bản, và các nhà sư cho khắc bản lưu truyền. Một nhóm tác giả ngữ văn học ở Viện nghiên cứu Hán Nôm do Giáo sư Nguyễn Quang Hồng chủ trì đã tiền hành sưu tâm tại chùa Dâu những văn bản như thế, và qua một thời gian dài khảo cứu công phu, đã biên soạn thành cuốn sách "Di văn chùa Dâu: Cổ Châu lục - Cổ Châu hạnh - Cổ Châu nghi" này để công hiến cùng độc giả.

Đặc trưng căn bản và tiên quyết của cuốn chuyên khảo này chính là tiền đề phương pháp luận lấy văn tự học làm bản vị. Đây là điểm cốt yếu và khác biệt của cuốn sách, bởi các chuyên khảo về chữ Nôm trước đây thường đặt vấn đề ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt lên trên vấn đề văn tự học khi tiếp cận kho tàng văn hiến chữ Nôm. Việc trả lại bản chất văn tự học cho hướng tiếp cận nghiên cứu chữ Nôm còn giúp cho cuốn sách, xét từ khía cạnh lịch sử văn hiến, khắc phục được nhược điểm cố hữu trong việc nghiên cứu chữ Nôm là thường quá chú trọng tới những văn hiến có niên đại sớm, mà xao lãng những văn hiến có niên đại muộn, khoảng từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Với công trình nghiên cứu này, GS Nguyễn Quang Hồng đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2017. Tháng 12 năm 2024 bản dịch tiếng Hán của cuốn sách này (喃字文字学概论) đã được Ba Thục Thư xã chính thức xuất bản và ra mắt bạn đọc Hoa ngữ.

“Nguồn gốc và Quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” là công trình nghiên cứu quan trọng của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, một học giả hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam. Cuốn sách tập trung khảo cứu sâu về sự hình thành cách đọc Hán Việt – một hiện tượng ngôn ngữ độc đáo, phản ánh mối giao lưu lâu dài giữa tiếng Việt và Hán ngữ. Tác giả phân tích nguồn gốc, quá trình biến đổi và những quy luật ngữ âm chi phối cách đọc này, qua đó làm sáng tỏ cơ chế tiếp nhận và bản địa hóa từ Hán trong tiếng Việt. Bằng lối viết khoa học, chặt chẽ và công phu, sách cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho những ai quan tâm đến Hán Nôm, ngôn ngữ học lịch sử và văn hóa Việt Nam. Từ lần xuất bản đầu tiên năm 1979 đến các lần tái bản sau, công trình này luôn được coi là tài liệu tham khảo không thể thiếu trong giới nghiên cứu. Nó không chỉ có giá trị học thuật mà còn góp phần khẳng định bản sắc ngôn ngữ và văn hiến Việt Nam trong tiến trình lịch sử.

Bài viết “Hán Việt ngữ nghiên cứu” (Han Yue Yu Yanjiu) của Giáo sư Vương Lực, đăng trên Tạp chí Lĩnh Nam năm 1948, được xem là một đóng góp mang tính cột mốc trong lĩnh vực ngôn ngữ học Hán – Việt. Trong công trình này, ông phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành hai lớp lớn: từ thuần Việt và từ Hán Việt. Đồng thời, ông còn xác định ba lớp trong hệ thống ngữ âm của từ Hán Việt: Hán Việt, Cổ Hán Việt và Hán ngữ Việt hóa. Sự khảo cứu tiên phong về các tầng bậc lịch sử này, được Giáo sư Vương Lực đề xuất cách nay hơn nửa thế kỷ, đến nay vẫn mang lại nhiều gợi mở quý báu và giữ nguyên giá trị ảnh hưởng sâu rộng.

Cuốn "Khảo cứu Từ điển Song ngữ Hán Việt NHẬT DỤNG THƯỜNG ĐÀM của Phạm Đình Hồ là công trình chuyên sâu của PGS. Trần Trọng Dương về một tác phẩm từ điển song ngữ tiêu biểu trong lịch sử ngôn ngữ và giáo dục Việt Nam. Tác giả không chỉ giới thiệu, phiên dịch và chú giải văn bản Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hồ mà còn đặt nó trong bối cảnh rộng lớn của lịch sử từ điển học và giao lưu Hán – Việt. Thông qua việc phân tích cấu trúc, nội dung và giá trị của bộ từ điển, cuốn sách cho thấy cách người Việt tiếp cận tri thức, ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa, đồng thời phản ánh sự sáng tạo, bản địa hóa trong việc vận dụng chữ Hán và tiếng Việt. Công trình mang đến cho độc giả những tư liệu quý giá để hiểu rõ hơn về tiến trình phát triển của từ điển học, ngôn ngữ học lịch sử và di sản văn hiến dân tộc.

Tuyển tập "6 truyện thơ Nôm đầu thế kỷ XX", do Giáo sư Nhan Bảo, Đại học Bắc Kinh, với tâm huyết dành cho văn hóa Việt Nam và kiến thức uyên thâm về Hán Nôm, phiên dịch và giới thiệu, với sự hiệu đính của GS. Vũ Văn Kính. Các tác phẩm truyện thơ Nôm, tuy ngắn dài khác nhau, nhưng đều phản ánh đời sống, tình yêu và tâm hồn dân gian Việt Nam qua ngôn ngữ Nôm độc đáo."

"Đường thi tuyệt cú diễn ca" là một công trình sưu tầm, phiên âm và chú thích quý hiếm do Giáo sư Nhan Bảo, Đại học Bắc Kinh, thực hiện. Tác phẩm gồm gần 60 bài thơ Đường được một thi nhân vô danh người Việt tuyển chọn, dịch sang tiếng Việt và viết lại bằng **chữ Nôm** cách đây hàng trăm năm. Giáo sư Nhan Bảo — một học giả Hán Nôm uyên thâm và nhà Việt Nam học hàng đầu tại Trung Quốc — đã phát hiện bản chép tay quý này tại thư viện Paris (Pháp), phiên âm ra quốc ngữ, đối chiếu chú giải cẩn trọng, giúp độc giả hôm nay tiếp cận một di sản độc đáo kết nối văn học Việt Nam và Trung Hoa.

Chữ Nôm của Việt Nam, với tư cách là một loại hình văn tự, cần được triển khai nghiên cứu từ góc độ bản chất của nó là góc độ văn tự học. Ở góc độ này, khi nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm, cần kết hợp nghiên cứu từ hai cấp độ là hệ thống văn tự và đơn vị văn tự, từ đó nhấn mạnh vào những yếu tố không thay đổi (diên) và có thay đổi (cách) trong cấu trúc. Đó là nhu cầu thiết yếu trong nghiên cứu chữ Nôm hiện nay. Chuyên khảo “Diên cách cấu trúc chữ Nôm Việt” của tác giả Nguyễn Tuấn Cường đã nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ Nôm qua các văn bản giải âm Kinh Thi, thông qua việc xem xét hệ thống tư liệu chữ Nôm trong các bản giải âm Kinh Thi để nhìn nhận quá trình diễn biến của cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng của chữ Nôm từ hai cấp độ hệ thống văn tự và đơn vị văn tự. Từ ý tưởng khoa học, cách triển khai trên thực tế cũng như các cứ liệu minh chứng ta có thể thấy đây là một chuyên khảo khoa học trong nhận thức, trong hiện thực và trong kỹ thuật trình bày. Vì vậy đây là một công trình có giá trị về cả lý luận và thực tiễn.

“Thiên Nam ngữ lục” là một tác phẩm đặc sắc ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVII, trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam nói chung và của văn học chữ Nôm nói riêng. Đó là tác phẩm Nôm có dung lượng lớn nhất, gồm 8.136 câu thơ lục bát, có xen 31 bài thơ chữ Hán và hai bài thơ chữ Nôm được viết theo thể thất ngôn bát cú. Tác giả Nguyễn Thị Lâm đã thực hiện việc rà soát lại bản phiên âm cũ, trên cơ sở đối chiếu với các bản chữ Nôm hiện có, hiệu chỉnh những trường hợp phiên âm chưa thỏa đáng, bổ sung những điểm chú thích và khảo dị cần thiết để cung cấp cho độc giả một văn bản phiên âm, khảo cứu và chú thích mới của “Thiên Nam ngữ lục”. Ngoài ba dị bản chữ Nôm đã được hai GS Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh khai thác và giới thiệu trước đây, Nguyễn Thị Lâm giới thiệu thêm ba dị bản khác và tiến hành khảo dị trên cả sáu dị bản này, hiệu chỉnh trên 400 trường hợp phiên âm và ngót 50 trường hợp chú thích, bổ sung gần 130 trường hợp chú thích mới, lập thêm các bảng sách dẫn tên người, tên đất xuất hiện trong văn bản.

Chuyên khảo này là một công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn tự học, đã áp dụng hai khái niệm quan trọng cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể để tập trung nghiên cứu về chữ Nôm tự tạo của Việt Nam qua một văn bản Nôm mang tính tiêu biểu vào khoảng cuối thế kỷ XVII – văn bản giải âm “Truyền kỳ Mạn lục”. Chuyên khảo được chia làm bốn chương: Chương Một giới thiệu về chữ Nôm và văn bản Tân biên Truyền kỳ Mạn lục”;Chương Hai trình bày lý thuyết văn tự học và tình hình chung về chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm “Truyền kỳ Mạn lục”; Chương Ba và Chương Bốn lần lượt xuất phát từ góc nhìn cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể để nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm này. Ngoài ra, cuối chuyên khảo còn có chín phụ lục quan trọng nhằm giúp quý độc giả hiểu rõ nội dung chuyên khảo.

Cuốn sách này là tuyển tập các bài viết quan trọng của GS. TS Nguyễn Quang Hồng về ngôn ngữ học, văn tự học và ngữ văn học trong suốt 40 năm, với sự chắt lọc và tinh chỉnh đầy công phu. Các chuyên luận có thể được chia thành 2 mảng lớn: Ngôn ngữ học và nghiên cứu việt ngữ Ngữ văn học và nghiên cứu hán nôm Các chuyên luận khai thác nhiều vấn đề quan trọng trong ngôn ngữ học như phân biệt các loại hình ngôn ngữ, chuẩn hoá phát âm tiếng Việt, phân tích cấu trúc âm tiết, khảo cứu chữ Nôm,… Không chỉ mang tính tổng kết và bao quát các vùng nghiên cứu chính của GS. TS Nguyễn Quang Hồng, công trình này còn là nền móng để các nghiên cứu liên ngành sau này kế thừa để tiếp tục đặt ra những câu hỏi mới và phát triển xa hơn.

Lý thuyết và thực hành chữ Nôm là giáo trình 347 trang do PGS. Trần Trọng Dương (chủ biên) biên soạn cùng Phạm Thị Thảo và Hà Đăng Việt. Sách kết tinh gần một thập kỷ giảng dạy–nghiên cứu, vừa chặt chẽ về học thuật vừa chú trọng thực hành, kiến tạo một lộ trình bền vững để tiếp cận chữ Nôm. Về cấu trúc, sách mở đầu bằng 5 chương lý thuyết ngắn—chữ Nôm là gì, hình thành khi nào, các loại hình văn bản, phân kỳ lịch sử, và cấu trúc tạo chữ—trước khi chuyển sang phần thực hành (từ Bài 6 trở đi) rèn luyện kỹ năng phiên đọc–phân tích bản gốc qua nhiều thể loại và chất liệu: thơ, phong dao, tuồng, văn bản hành chính, bản dịch tôn giáo; trên giấy, gỗ, đá, gốm sứ. Mỗi bài ghép đôi văn bản Nôm với phiên âm, chú giải, mục từ, bài tập và ảnh chụp, nhằm xây nền tảng đọc giải mã chữ Nôm và nắm quy luật cấu tạo chữ.

Bản giải âm “Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh” (viết tắt là “Phật thuyết”) từ lâu tưởng đã bị thất truyền như số phận của phần lớn các văn bản từ thế kỷ XVI trở về trước. May thay, năm 1979, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp (Việt kiều) đã mang bản giải âm này từ Paris về nước. Nội dung văn bản là một bộ kinh của nhà chùa nói về chữ “hiếu”, vì thế cũng rất quý với những người nghiên cứu tôn giáo sử, tư tưởng sử và văn hóa sử, đặc biệt là về văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lê Sơ, khi Nho giáo đang buổi cực thịnh... Nghiên cứu bản giải âm này, tác giả Hoàng Thị Ngọ đã phân loại cấu trúc chữ Nôm ở thời kỳ đầu của lịch sử phát triển, tập trung đi sâu phân tích loại chữ Nôm dùng hai mã chữ để ghi một tiếng Việt rồi sau đó miêu tả các đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt, bước đầu nhận định về cách dịch của dịch giả bản Giải âm. Sau khi phiên âm, chú giải toàn bộ văn bản, tác giả còn cung cấp cho bạn đọc một bảng Từ vựng với số liệu thống kê tần số xuất hiện của các từ thuần Nôm, kèm theo văn cảnh cụ thể. Bạn đọc cũng được cung cấp nguyên bản Giải âm, một văn bản cho đến nay được coi là rất quý hiếm, để tiện theo dõi và tiếp tục triển khai nghiên cứu ở những địa hạt khác nhau.

“Thiền Tông Bản Hạnh” là tập thơ phú Nôm, trong đó có sưu tập bốn bài phú thời Trần và một bài hành sáng tác vào thời Lê. Đây là những áng văn Nôm đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Chữ Nôm trong văn bản chứa đựng nhiều cứ liệu rất quý giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu văn tự và tiếng Việt thời sơ kỳ. Người đầu tiên giới thiệu cuốn sách này là giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong tập chí “Phật học Vạn Hạnh” tại Sài Gòn năm 1966, qua bản Nôm khắc in năm 1745 và giáo sư Đào Duy Anh trong sách “Chữ Nôm - Nguồn gốc cấu tạo diễn biến” tại Hà Nội năm 1975, qua bản Nôm khắc in năm 1932. Sau đó, có rất nhiều bản phiên âm quốc ngữ xuất hiện trên cơ sở tham khảo hai bản phiên âm chú giải của hai giáo sư nói trên. Cuốn sách “Thiền Tông Bản Hạnh”, do Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, là một công trình nghiên cứu văn bản học và chú giải chuyên sâu về một tác phẩm quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm tập trung khảo sát nguồn gốc văn bản, dị bản, ngôn ngữ chữ Nôm và bối cảnh tư tưởng của văn bản, qua đó làm sáng tỏ giá trị lịch sử – tôn giáo và văn học của dòng thiền Việt Nam. Công trình không chỉ góp phần hiệu đính và hệ thống hóa tư liệu, mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về truyền thống Thiền tông trong tiến trình văn hóa dân tộc, đặc biệt ở phương diện tư tưởng, thi pháp và diễn ngôn Phật giáo trung đại.

Trong thi ca Việt Nam thời Trung đại có một dòng thơ được hình thành và phát triển khá mạnh mẽ, đó là dòng thơ vịnh sử. Nhìn lại những thành tựu của dòng thơ vịnh sử Việt Nam có thể nói tập thơ “Vịnh sử thi tập” của Thoát Hiên Đặng Minh Khiêm là tập thơ vịnh sử cổ nhất được lưu truyền rộng rãi và làm khuôn mẫu cho nhiều tác giả thơ vịnh sử đời sau. “Thoát Hiên Vịnh sử Thi tập”, do Hoàng Thị Ngọ và Nguyễn Văn Nguyên biên soạn, là công trình khảo cứu và phiên âm – chú giải tập thơ vịnh sử quan trọng trong truyền thống văn học trung đại Việt Nam này. Tác phẩm tập trung giới thiệu văn bản gốc, đối chiếu dị bản, chú thích điển tích và làm rõ bối cảnh lịch sử – văn hóa của các bài thơ. Qua đó, cuốn sách không chỉ góp phần phục dựng giá trị văn bản học của “Thoát Hiên Vịnh sử Thi tập”, mà còn làm nổi bật cách các tác giả xưa dùng thơ để bình luận lịch sử, thể hiện quan niệm đạo lý và ý thức về quá khứ dân tộc. Đây là tài liệu có giá trị cho nghiên cứu Hán Nôm và văn học sử Việt Nam.

Cuốn sách "Từ điển song ngữ Hán Việt Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" của tác giả Hoàng Thị Ngọ là tổng hợp những kết quả nghiên cứu, tìm hiểu về căn bản "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" của tác giả. trong một thập kỷ trở lại đây. Hoàng Thị Ngọ đã rà soát kỹ lại văn bản Hán Nôm để cố gắng hoàn thiện thêm một bước bản phiên khảo của TS. Trần Xuân Ngọc Lan, làm rõ thêm những vấn đề về văn bản, tác giả, niên đại, những cứ liệu về ngữ âm lịch sử, từ ngữ cổ... và chứng minh rằng thể thơ lục bát được sử dụng để diễn đạt các mục từ trong cuốn từ điển, chính là dấu tích sớm nhất của thể thơ lục bát trong văn học thành văn của văn học trung đại Việt Nam. Đây là cuốn tái bản năm 2020, đã được chỉnh sửa, bổ sung so với bản năm 2016.

"Nghiên cứu âm Hán Việt thế kỷ 17" là chuyên khảo phát triển từ luận án tiến sĩ của Tiến sĩ Nguyễn Đại Cồ Việt (2011) tại Đại học Bắc Kinh. Dù viết bằng tiếng Hán, sách có Lời dẫn tiếng Việt nhằm hệ thống hóa phương pháp và thuật ngữ. Công trình đề xuất khái niệm “Việt Nam Hán tự âm” và nổi bật với lý thuyết “tiếp xúc nội tại”, giải thích sự tương tác giữa âm Hán Việt và thuần Việt. Dựa trên các tư liệu chữ Quốc ngữ sơ kỳ, đặc biệt là "Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha – La tinh"(1651) và văn bản "Lịch sử nước An Nam" (1659) của linh mục Bento Thiện, tác giả tái dựng diện mạo ngữ âm thế kỷ 17, đồng thời chỉ ra các quy luật mới và những “lệ ngoại” chưa từng được làm rõ. Chuyên luận nhấn mạnh tính chủ động của tiếng Việt trong quá trình Việt hóa, góp phần phân định rõ giữa âm Hán Việt và Hán Nôm hóa—một đóng góp quan trọng cho ngữ âm học lịch sử và nghiên cứu Hán Nôm.

Làng Chèm, tên nôm xưa của phường Thụy Phương ngày nay, là một làng Việt cổ gắn liền với sông Hồng và vùng đất Từ Liêm. Đình Chèm, tọa lạc tại vị trí giao thoa của các dòng sông quan trọng, từng là một điểm tụ hội giao thương và văn hóa của vùng Thăng Long xưa. Với kiến trúc cổ kính và vị trí địa lý đặc biệt, đình không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một không gian tích tụ các lớp ký ức lịch sử và văn hóa. Cuốn sách Di sản Hán Nôm Đình Chèm, do Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành năm 2015, là một công trình sưu tầm và nghiên cứu quan trọng về hệ thống tư liệu Hán Nôm gắn với Đình Chèm, một trong những di tích lâu đời của Hà Nội. Công trình được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân phường Thụy Phương, với Tiến sĩ Trần Trọng Dương giữ vai trò trưởng ban biên dịch. Xuất phát từ mục tiêu không chỉ giới thiệu một di tích mà còn khơi lại chiều sâu văn hiến của một cộng đồng, cuốn sách đặt Đình Chèm vào một mạng lưới rộng lớn của lịch sử, tín ngưỡng và văn bản. Ở đó, chữ Hán và chữ Nôm không đơn thuần là phương tiện ghi chép, mà là nơi lưu giữ ký ức tập thể qua nhiều thế kỷ.






