
Cuốn sách này là tuyển tập các bài viết quan trọng của GS. TS Nguyễn Quang Hồng về ngôn ngữ học, văn tự học và ngữ văn học trong suốt 40 năm, với sự chắt lọc và tinh chỉnh đầy công phu. Các chuyên luận có thể được chia thành 2 mảng lớn: Ngôn ngữ học và nghiên cứu việt ngữ Ngữ văn học và nghiên cứu hán nôm Các chuyên luận khai thác nhiều vấn đề quan trọng trong ngôn ngữ học như phân biệt các loại hình ngôn ngữ, chuẩn hoá phát âm tiếng Việt, phân tích cấu trúc âm tiết, khảo cứu chữ Nôm,… Không chỉ mang tính tổng kết và bao quát các vùng nghiên cứu chính của GS. TS Nguyễn Quang Hồng, công trình này còn là nền móng để các nghiên cứu liên ngành sau này kế thừa để tiếp tục đặt ra những câu hỏi mới và phát triển xa hơn.

"Truyền kỳ mạn lục" là tập truyện ngắn tuyển chọn gồm 20 truyện của danh sĩ Nguyễn Dữ, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra từ đời Trần, đời Hồ đến đời Lê sơ, không gian trải dài từ Nghệ An trở ra Bắc. Các tác phẩm phác họa rõ nét quang cảnh đất nước và con người Việt Nam với đầy đủ tên tuổi, số phận của họ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể của nước nhà, lúc thì thấm đượm thế thái nhân tình, khi thì khí khái hào mại, khi thì lâm ly thống thiết, lại được phô diễn một cách điêu luyện bằng bút pháp vừa tự sự vừa trữ tình. Tương truyền Nguyễn Thế Nghi là người dịch tác phẩm Hán văn Truyền Kỳ Mạn Lục sang văn Nôm vào thế kỷ XVII. "Truyền kỳ mạn lục Giải Âm" (phiên bản năm 2001) là bản phiên âm của GS Nguyễn Quang Hồng từ bản dịch chữ Nôm của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. GS Nguyễn Quang Hồng trong quá trình phiên âm đã giữ nguyên các cấu trúc, quy tắc dùng từ của người Việt trong thời kỳ trung đại. Bên cạnh việc phiên âm, GS còn tiến hành chú giải các điển tích, điển cố và từ ngữ trong sách. Bởi vậy, tập truyện có giá trị cao về học thuật, không giống các bản Truyền kỳ mạn lục đang lưu hành chỉ đơn thuần là dịch từ Hán văn hoặc văn Nôm sang tiếng Việt hiện đại.

Cội nguồn đạo Phật ở Việt Nam vốn gắn liền với một sự tích vừa thần kỳ lại vừa hiện thực. Đó là câu chuyện kể về bà Man Nương thụ phép sư thầy Khâu Đà La (từ Ấn Độ sang vào buổi đầu Công nguyên), và trở thành Phật Mẫu trên đất Cổ Châu gần thành Luy Lâu xưa. Truyền thuyết dân gian đó từ bao đời nay đã ăn sâu vào tâm thức người Việt ở lưu vực sông Hồng, rồi được các nhà tri thức gia công thêm, viết thành văn bản, và các nhà sư cho khắc bản lưu truyền. Một nhóm tác giả ngữ văn học ở Viện nghiên cứu Hán Nôm do Giáo sư Nguyễn Quang Hồng chủ trì đã tiền hành sưu tâm tại chùa Dâu những văn bản như thế, và qua một thời gian dài khảo cứu công phu, đã biên soạn thành cuốn sách "Di văn chùa Dâu: Cổ Châu lục - Cổ Châu hạnh - Cổ Châu nghi" này để công hiến cùng độc giả.

Đặc trưng căn bản và tiên quyết của cuốn chuyên khảo này chính là tiền đề phương pháp luận lấy văn tự học làm bản vị. Đây là điểm cốt yếu và khác biệt của cuốn sách, bởi các chuyên khảo về chữ Nôm trước đây thường đặt vấn đề ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt lên trên vấn đề văn tự học khi tiếp cận kho tàng văn hiến chữ Nôm. Việc trả lại bản chất văn tự học cho hướng tiếp cận nghiên cứu chữ Nôm còn giúp cho cuốn sách, xét từ khía cạnh lịch sử văn hiến, khắc phục được nhược điểm cố hữu trong việc nghiên cứu chữ Nôm là thường quá chú trọng tới những văn hiến có niên đại sớm, mà xao lãng những văn hiến có niên đại muộn, khoảng từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Với công trình nghiên cứu này, GS Nguyễn Quang Hồng đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2017. Tháng 12 năm 2024 bản dịch tiếng Hán của cuốn sách này (喃字文字学概论) đã được Ba Thục Thư xã chính thức xuất bản và ra mắt bạn đọc Hoa ngữ.

“Nguồn gốc và Quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” là công trình nghiên cứu quan trọng của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, một học giả hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam. Cuốn sách tập trung khảo cứu sâu về sự hình thành cách đọc Hán Việt – một hiện tượng ngôn ngữ độc đáo, phản ánh mối giao lưu lâu dài giữa tiếng Việt và Hán ngữ. Tác giả phân tích nguồn gốc, quá trình biến đổi và những quy luật ngữ âm chi phối cách đọc này, qua đó làm sáng tỏ cơ chế tiếp nhận và bản địa hóa từ Hán trong tiếng Việt. Bằng lối viết khoa học, chặt chẽ và công phu, sách cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho những ai quan tâm đến Hán Nôm, ngôn ngữ học lịch sử và văn hóa Việt Nam. Từ lần xuất bản đầu tiên năm 1979 đến các lần tái bản sau, công trình này luôn được coi là tài liệu tham khảo không thể thiếu trong giới nghiên cứu. Nó không chỉ có giá trị học thuật mà còn góp phần khẳng định bản sắc ngôn ngữ và văn hiến Việt Nam trong tiến trình lịch sử.

Bài viết “Hán Việt ngữ nghiên cứu” (Han Yue Yu Yanjiu) của Giáo sư Vương Lực, đăng trên Tạp chí Lĩnh Nam năm 1948, được xem là một đóng góp mang tính cột mốc trong lĩnh vực ngôn ngữ học Hán – Việt. Trong công trình này, ông phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành hai lớp lớn: từ thuần Việt và từ Hán Việt. Đồng thời, ông còn xác định ba lớp trong hệ thống ngữ âm của từ Hán Việt: Hán Việt, Cổ Hán Việt và Hán ngữ Việt hóa. Sự khảo cứu tiên phong về các tầng bậc lịch sử này, được Giáo sư Vương Lực đề xuất cách nay hơn nửa thế kỷ, đến nay vẫn mang lại nhiều gợi mở quý báu và giữ nguyên giá trị ảnh hưởng sâu rộng.

Cuốn "Khảo cứu Từ điển Song ngữ Hán Việt NHẬT DỤNG THƯỜNG ĐÀM của Phạm Đình Hồ là công trình chuyên sâu của PGS. Trần Trọng Dương về một tác phẩm từ điển song ngữ tiêu biểu trong lịch sử ngôn ngữ và giáo dục Việt Nam. Tác giả không chỉ giới thiệu, phiên dịch và chú giải văn bản Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hồ mà còn đặt nó trong bối cảnh rộng lớn của lịch sử từ điển học và giao lưu Hán – Việt. Thông qua việc phân tích cấu trúc, nội dung và giá trị của bộ từ điển, cuốn sách cho thấy cách người Việt tiếp cận tri thức, ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa, đồng thời phản ánh sự sáng tạo, bản địa hóa trong việc vận dụng chữ Hán và tiếng Việt. Công trình mang đến cho độc giả những tư liệu quý giá để hiểu rõ hơn về tiến trình phát triển của từ điển học, ngôn ngữ học lịch sử và di sản văn hiến dân tộc.

Tuyển tập "6 truyện thơ Nôm đầu thế kỷ XX", do Giáo sư Nhan Bảo, Đại học Bắc Kinh, với tâm huyết dành cho văn hóa Việt Nam và kiến thức uyên thâm về Hán Nôm, phiên dịch và giới thiệu, với sự hiệu đính của GS. Vũ Văn Kính. Các tác phẩm truyện thơ Nôm, tuy ngắn dài khác nhau, nhưng đều phản ánh đời sống, tình yêu và tâm hồn dân gian Việt Nam qua ngôn ngữ Nôm độc đáo."

"Đường thi tuyệt cú diễn ca" là một công trình sưu tầm, phiên âm và chú thích quý hiếm do Giáo sư Nhan Bảo, Đại học Bắc Kinh, thực hiện. Tác phẩm gồm gần 60 bài thơ Đường được một thi nhân vô danh người Việt tuyển chọn, dịch sang tiếng Việt và viết lại bằng **chữ Nôm** cách đây hàng trăm năm. Giáo sư Nhan Bảo — một học giả Hán Nôm uyên thâm và nhà Việt Nam học hàng đầu tại Trung Quốc — đã phát hiện bản chép tay quý này tại thư viện Paris (Pháp), phiên âm ra quốc ngữ, đối chiếu chú giải cẩn trọng, giúp độc giả hôm nay tiếp cận một di sản độc đáo kết nối văn học Việt Nam và Trung Hoa.

Chữ Nôm của Việt Nam, với tư cách là một loại hình văn tự, cần được triển khai nghiên cứu từ góc độ bản chất của nó là góc độ văn tự học. Ở góc độ này, khi nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm, cần kết hợp nghiên cứu từ hai cấp độ là hệ thống văn tự và đơn vị văn tự, từ đó nhấn mạnh vào những yếu tố không thay đổi (diên) và có thay đổi (cách) trong cấu trúc. Đó là nhu cầu thiết yếu trong nghiên cứu chữ Nôm hiện nay. Chuyên khảo “Diên cách cấu trúc chữ Nôm Việt” của tác giả Nguyễn Tuấn Cường đã nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ Nôm qua các văn bản giải âm Kinh Thi, thông qua việc xem xét hệ thống tư liệu chữ Nôm trong các bản giải âm Kinh Thi để nhìn nhận quá trình diễn biến của cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng của chữ Nôm từ hai cấp độ hệ thống văn tự và đơn vị văn tự. Từ ý tưởng khoa học, cách triển khai trên thực tế cũng như các cứ liệu minh chứng ta có thể thấy đây là một chuyên khảo khoa học trong nhận thức, trong hiện thực và trong kỹ thuật trình bày. Vì vậy đây là một công trình có giá trị về cả lý luận và thực tiễn.

Cuốn sách "Từ điển song ngữ Hán Việt Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" của tác giả Hoàng Thị Ngọ là tổng hợp những kết quả nghiên cứu, tìm hiểu về căn bản "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" của tác giả. trong một thập kỷ trở lại đây. Hoàng Thị Ngọ đã rà soát kỹ lại văn bản Hán Nôm để cố gắng hoàn thiện thêm một bước bản phiên khảo của TS. Trần Xuân Ngọc Lan, làm rõ thêm những vấn đề về văn bản, tác giả, niên đại, những cứ liệu về ngữ âm lịch sử, từ ngữ cổ... và chứng minh rằng thể thơ lục bát được sử dụng để diễn đạt các mục từ trong cuốn từ điển, chính là dấu tích sớm nhất của thể thơ lục bát trong văn học thành văn của văn học trung đại Việt Nam. Đây là cuốn tái bản năm 2020, đã được chỉnh sửa, bổ sung so với bản năm 2016.

Bản giải âm “Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh” (viết tắt là “Phật thuyết”) từ lâu tưởng đã bị thất truyền như số phận của phần lớn các văn bản từ thế kỷ XVI trở về trước. May thay, năm 1979, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp (Việt kiều) đã mang bản giải âm này từ Paris về nước. Nội dung văn bản là một bộ kinh của nhà chùa nói về chữ “hiếu”, vì thế cũng rất quý với những người nghiên cứu tôn giáo sử, tư tưởng sử và văn hóa sử, đặc biệt là về văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lê Sơ, khi Nho giáo đang buổi cực thịnh... Nghiên cứu bản giải âm này, tác giả Hoàng Thị Ngọ đã phân loại cấu trúc chữ Nôm ở thời kỳ đầu của lịch sử phát triển, tập trung đi sâu phân tích loại chữ Nôm dùng hai mã chữ để ghi một tiếng Việt rồi sau đó miêu tả các đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt, bước đầu nhận định về cách dịch của dịch giả bản Giải âm. Sau khi phiên âm, chú giải toàn bộ văn bản, tác giả còn cung cấp cho bạn đọc một bảng Từ vựng với số liệu thống kê tần số xuất hiện của các từ thuần Nôm, kèm theo văn cảnh cụ thể. Bạn đọc cũng được cung cấp nguyên bản Giải âm, một văn bản cho đến nay được coi là rất quý hiếm, để tiện theo dõi và tiếp tục triển khai nghiên cứu ở những địa hạt khác nhau.

“Thiên Nam ngữ lục” là một tác phẩm đặc sắc ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVII, trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam nói chung và của văn học chữ Nôm nói riêng. Đó là tác phẩm Nôm có dung lượng lớn nhất, gồm 8.136 câu thơ lục bát, có xen 31 bài thơ chữ Hán và hai bài thơ chữ Nôm được viết theo thể thất ngôn bát cú. Tác giả Nguyễn Thị Lâm đã thực hiện việc rà soát lại bản phiên âm cũ, trên cơ sở đối chiếu với các bản chữ Nôm hiện có, hiệu chỉnh những trường hợp phiên âm chưa thỏa đáng, bổ sung những điểm chú thích và khảo dị cần thiết để cung cấp cho độc giả một văn bản phiên âm, khảo cứu và chú thích mới của “Thiên Nam ngữ lục”. Ngoài ba dị bản chữ Nôm đã được hai GS Nguyễn Lương Ngọc và Đinh Gia Khánh khai thác và giới thiệu trước đây, Nguyễn Thị Lâm giới thiệu thêm ba dị bản khác và tiến hành khảo dị trên cả sáu dị bản này, hiệu chỉnh trên 400 trường hợp phiên âm và ngót 50 trường hợp chú thích, bổ sung gần 130 trường hợp chú thích mới, lập thêm các bảng sách dẫn tên người, tên đất xuất hiện trong văn bản.

Chuyên khảo này là một công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn tự học, đã áp dụng hai khái niệm quan trọng cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể để tập trung nghiên cứu về chữ Nôm tự tạo của Việt Nam qua một văn bản Nôm mang tính tiêu biểu vào khoảng cuối thế kỷ XVII – văn bản giải âm “Truyền kỳ Mạn lục”. Chuyên khảo được chia làm bốn chương: Chương Một giới thiệu về chữ Nôm và văn bản Tân biên Truyền kỳ Mạn lục”;Chương Hai trình bày lý thuyết văn tự học và tình hình chung về chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm “Truyền kỳ Mạn lục”; Chương Ba và Chương Bốn lần lượt xuất phát từ góc nhìn cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể để nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm này. Ngoài ra, cuối chuyên khảo còn có chín phụ lục quan trọng nhằm giúp quý độc giả hiểu rõ nội dung chuyên khảo.

Lý thuyết và thực hành chữ Nôm là giáo trình 347 trang do PGS. Trần Trọng Dương (chủ biên) biên soạn cùng Phạm Thị Thảo và Hà Đăng Việt. Sách kết tinh gần một thập kỷ giảng dạy–nghiên cứu, vừa chặt chẽ về học thuật vừa chú trọng thực hành, kiến tạo một lộ trình bền vững để tiếp cận chữ Nôm. Về cấu trúc, sách mở đầu bằng 5 chương lý thuyết ngắn—chữ Nôm là gì, hình thành khi nào, các loại hình văn bản, phân kỳ lịch sử, và cấu trúc tạo chữ—trước khi chuyển sang phần thực hành (từ Bài 6 trở đi) rèn luyện kỹ năng phiên đọc–phân tích bản gốc qua nhiều thể loại và chất liệu: thơ, phong dao, tuồng, văn bản hành chính, bản dịch tôn giáo; trên giấy, gỗ, đá, gốm sứ. Mỗi bài ghép đôi văn bản Nôm với phiên âm, chú giải, mục từ, bài tập và ảnh chụp, nhằm xây nền tảng đọc giải mã chữ Nôm và nắm quy luật cấu tạo chữ.

“Thiền Tông Bản Hạnh” là tập thơ phú Nôm, trong đó có sưu tập bốn bài phú thời Trần và một bài hành sáng tác vào thời Lê. Đây là những áng văn Nôm đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Chữ Nôm trong văn bản chứa đựng nhiều cứ liệu rất quý giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu văn tự và tiếng Việt thời sơ kỳ. Người đầu tiên giới thiệu cuốn sách này là giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong tập chí “Phật học Vạn Hạnh” tại Sài Gòn năm 1966, qua bản Nôm khắc in năm 1745 và giáo sư Đào Duy Anh trong sách “Chữ Nôm - Nguồn gốc cấu tạo diễn biến” tại Hà Nội năm 1975, qua bản Nôm khắc in năm 1932. Sau đó, có rất nhiều bản phiên âm quốc ngữ xuất hiện trên cơ sở tham khảo hai bản phiên âm chú giải của hai giáo sư nói trên. Cuốn sách “Thiền Tông Bản Hạnh”, do Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, là một công trình nghiên cứu văn bản học và chú giải chuyên sâu về một tác phẩm quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm tập trung khảo sát nguồn gốc văn bản, dị bản, ngôn ngữ chữ Nôm và bối cảnh tư tưởng của văn bản, qua đó làm sáng tỏ giá trị lịch sử – tôn giáo và văn học của dòng thiền Việt Nam. Công trình không chỉ góp phần hiệu đính và hệ thống hóa tư liệu, mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về truyền thống Thiền tông trong tiến trình văn hóa dân tộc, đặc biệt ở phương diện tư tưởng, thi pháp và diễn ngôn Phật giáo trung đại.

Trong thi ca Việt Nam thời Trung đại có một dòng thơ được hình thành và phát triển khá mạnh mẽ, đó là dòng thơ vịnh sử. Nhìn lại những thành tựu của dòng thơ vịnh sử Việt Nam có thể nói tập thơ “Vịnh sử thi tập” của Thoát Hiên Đặng Minh Khiêm là tập thơ vịnh sử cổ nhất được lưu truyền rộng rãi và làm khuôn mẫu cho nhiều tác giả thơ vịnh sử đời sau. “Thoát Hiên Vịnh sử Thi tập”, do Hoàng Thị Ngọ và Nguyễn Văn Nguyên biên soạn, là công trình khảo cứu và phiên âm – chú giải tập thơ vịnh sử quan trọng trong truyền thống văn học trung đại Việt Nam này. Tác phẩm tập trung giới thiệu văn bản gốc, đối chiếu dị bản, chú thích điển tích và làm rõ bối cảnh lịch sử – văn hóa của các bài thơ. Qua đó, cuốn sách không chỉ góp phần phục dựng giá trị văn bản học của “Thoát Hiên Vịnh sử Thi tập”, mà còn làm nổi bật cách các tác giả xưa dùng thơ để bình luận lịch sử, thể hiện quan niệm đạo lý và ý thức về quá khứ dân tộc. Đây là tài liệu có giá trị cho nghiên cứu Hán Nôm và văn học sử Việt Nam.

"Nghiên cứu âm Hán Việt thế kỷ 17" là chuyên khảo phát triển từ luận án tiến sĩ của Tiến sĩ Nguyễn Đại Cồ Việt (2011) tại Đại học Bắc Kinh. Dù viết bằng tiếng Hán, sách có Lời dẫn tiếng Việt nhằm hệ thống hóa phương pháp và thuật ngữ. Công trình đề xuất khái niệm “Việt Nam Hán tự âm” và nổi bật với lý thuyết “tiếp xúc nội tại”, giải thích sự tương tác giữa âm Hán Việt và thuần Việt. Dựa trên các tư liệu chữ Quốc ngữ sơ kỳ, đặc biệt là "Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha – La tinh"(1651) và văn bản "Lịch sử nước An Nam" (1659) của linh mục Bento Thiện, tác giả tái dựng diện mạo ngữ âm thế kỷ 17, đồng thời chỉ ra các quy luật mới và những “lệ ngoại” chưa từng được làm rõ. Chuyên luận nhấn mạnh tính chủ động của tiếng Việt trong quá trình Việt hóa, góp phần phân định rõ giữa âm Hán Việt và Hán Nôm hóa—một đóng góp quan trọng cho ngữ âm học lịch sử và nghiên cứu Hán Nôm.

Làng Chèm, tên nôm xưa của phường Thụy Phương ngày nay, là một làng Việt cổ gắn liền với sông Hồng và vùng đất Từ Liêm. Đình Chèm, tọa lạc tại vị trí giao thoa của các dòng sông quan trọng, từng là một điểm tụ hội giao thương và văn hóa của vùng Thăng Long xưa. Với kiến trúc cổ kính và vị trí địa lý đặc biệt, đình không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một không gian tích tụ các lớp ký ức lịch sử và văn hóa. Cuốn sách Di sản Hán Nôm Đình Chèm, do Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành năm 2015, là một công trình sưu tầm và nghiên cứu quan trọng về hệ thống tư liệu Hán Nôm gắn với Đình Chèm, một trong những di tích lâu đời của Hà Nội. Công trình được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân phường Thụy Phương, với Tiến sĩ Trần Trọng Dương giữ vai trò trưởng ban biên dịch. Xuất phát từ mục tiêu không chỉ giới thiệu một di tích mà còn khơi lại chiều sâu văn hiến của một cộng đồng, cuốn sách đặt Đình Chèm vào một mạng lưới rộng lớn của lịch sử, tín ngưỡng và văn bản. Ở đó, chữ Hán và chữ Nôm không đơn thuần là phương tiện ghi chép, mà là nơi lưu giữ ký ức tập thể qua nhiều thế kỷ.

"Truyền kỳ mạn lục" là tập truyện ngắn tuyển chọn gồm 20 truyện của danh sĩ Nguyễn Dữ, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra từ đời Trần, đời Hồ đến đời Lê sơ, không gian trải dài từ Nghệ An trở ra Bắc. Các tác phẩm phác họa rõ nét quang cảnh đất nước và con người Việt Nam với đầy đủ tên tuổi, số phận của họ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể của nước nhà, lúc thì thấm đượm thế thái nhân tình, khi thì khí khái hào mại, khi thì lâm ly thống thiết, lại được phô diễn một cách điêu luyện bằng bút pháp vừa tự sự vừa trữ tình. Tương truyền Nguyễn Thế Nghi là người dịch tác phẩm Hán văn Truyền Kỳ Mạn Lục sang văn Nôm vào thế kỷ XVII. "Truyền kỳ mạn lục Giải Âm" (2019) là bản phiên âm của GS Nguyễn Quang Hồng từ bản dịch chữ Nôm của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. GS Nguyễn Quang Hồng trong quá trình phiên âm đã giữ nguyên các cấu trúc, quy tắc dùng từ của người Việt trong thời kỳ trung đại. Bên cạnh việc phiên âm, GS còn tiến hành chú giải các điển tích, điển cố và từ ngữ trong sách. Bởi vậy, tập truyện có giá trị cao về học thuật, không giống các bản Truyền kỳ mạn lục đang lưu hành chỉ đơn thuần là dịch từ Hán văn hoặc văn Nôm sang tiếng Việt hiện đại. Bản in năm 2019 này có phần phụ lục văn bản nguyên tác được in rõ và dễ nhìn hơn bản in năm 2001.

Kho chữ Hán Nôm Mã hóa là một công trình tham khảo quan trọng đánh dấu những nỗ lực kéo dài hơn 15 năm của các học giả Hán Nôm và chuyên gia công nghệ thông tin trong việc chuẩn hóa, số hóa và đưa chữ Hán Nôm Việt Nam vào hệ thống mã hóa quốc tế Unicode. Do Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Việt Nam (Vietnamese Nôm Preservation Foundation) biên soạn, công trình được xuất bản năm 2008 dưới sự chủ biên của GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng và TS. Ngô Thanh Nhàn. Không chỉ là một bảng tra cứu đồ sộ gồm hàng nghìn ký tự Hán Nôm đã được mã hóa, cuốn sách còn ghi lại lịch sử tham gia của Việt Nam trong các hoạt động chuẩn hóa ký tự quốc tế, đặc biệt là quá trình đóng góp vào Nhóm Báo cáo viên Chữ Biểu ý (IRG) của ISO/Unicode nhằm đưa chữ Nôm vào kho ký tự chung toàn cầu. Công trình cung cấp hệ thống đối chiếu giữa chữ Hán Nôm, mã Unicode và âm đọc Quốc ngữ, đồng thời trình bày các nguyên tắc xây dựng kho chữ, bộ phông chữ, cơ sở tri thức và các công cụ xử lý chữ Hán Nôm trên máy tính. Ngày nay, Kho chữ Hán Nôm Mã hóa không chỉ là tài liệu nền tảng đối với các nhà nghiên cứu Hán Nôm mà còn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nhân văn số Việt Nam, phản ánh những nỗ lực tiên phong nhằm bảo tồn, chuẩn hóa và mở rộng khả năng tiếp cận di sản văn bản Hán Nôm trong môi trường số của thế kỷ XXI.

Được xuất bản vào năm 2012 trong số 7 của Journal of the Research Institute for World Languages, Đại học Osaka, bài viết bằng tiếng Nhật của Sato Thuy Uyen (佐藤トゥイウェン), Shimizu Masaaki (清水政明) và Kondo Mika (近藤美佳) có nhan đề “Quốc Phong Thi Tập Hợp Thái: Tuyển tập thơ bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ ở Việt Nam thời Nguyễn” (「國風詩集合採」―阮朝ベトナムにおける漢字・字喃・国語字表記の詩集―). Bài viết khảo sát Quốc Phong Thi Tập Hợp Thái (國風詩集合採), một tuyển tập thơ ca và dân ca Việt Nam có niên đại vào đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu giới thiệu cấu trúc văn bản và quá trình biên soạn của tác phẩm, đồng thời xem đây là một nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu ngôn ngữ bình dân và văn hóa văn chương Việt Nam trong một giai đoạn có nhiều chuyển biến về ngôn ngữ và văn tự. Bản tư liệu kết hợp chữ Hán, chữ Nôm và các ghi chú tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ, qua đó lưu lại dấu vết đáng chú ý về sự tồn tại đồng thời của nhiều hệ thống chữ viết. Bài viết đặc biệt chú trọng đến giá trị ngôn ngữ học của tư liệu. Thông qua việc đối chiếu cách ghi bằng chữ Quốc ngữ trong văn bản với cách phát âm tiếng Việt hiện đại, các tác giả nhận diện một số đặc điểm lịch sử gắn với phương ngữ Bắc Bộ, trong đó có những hiện tượng liên quan đến các nhóm phụ âm d/r/gi, tr/ch và s/x. Những đặc điểm này cung cấp tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu cách phát âm tiếng Việt vào đầu thế kỷ XX. Ở phạm vi rộng hơn, nghiên cứu cho thấy Quốc Phong Thi Tập Hợp Thái phản ánh một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trong lịch sử văn tự Việt Nam, khi chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ cùng tồn tại và được sử dụng. Vì vậy, tư liệu không chỉ có ý nghĩa đối với nghiên cứu thơ ca và văn học dân gian Việt Nam mà còn có giá trị đối với các lĩnh vực ngôn ngữ học lịch sử, lịch sử chữ viết và sự chuyển đổi của thực hành văn bản ở Việt Nam thời cận đại.

Được xuất bản vào năm 2022 trong số 60 của Tōnan Ajia Kenkyū (東南アジア研究, Southeast Asian Studies), bài viết bằng tiếng Nhật của Shimizu Masaaki (清水政明) có nhan đề “Dialectal Features of Nôm Characters of Phật Thuyết Thiên Địa Bát Dương Kinh”. Bài viết nghiên cứu các đặc điểm phương ngữ thể hiện qua hệ thống chữ Nôm trong bản Hán–Nôm Phật Thuyết Thiên Địa Bát Dương Kinh, một văn bản được lưu giữ tại chùa Cảnh Phước (Canh Phuoc Temple), Bangkok, Thái Lan. Nghiên cứu tiếp cận văn bản từ góc độ âm vị học lịch sử và từ điển học, phân tích thành phần ngữ âm của từng chữ Nôm nhằm xác định những đặc điểm phương ngữ được phản ánh trong cách cấu tạo và sử dụng chữ. Qua đó, tác giả chỉ ra nhiều đặc điểm liên quan đến các phương ngữ miền Trung và miền Nam Việt Nam, cho thấy chữ Nôm không chỉ là một hệ thống văn tự mà còn có thể lưu giữ những dấu vết quan trọng về sự đa dạng phương ngữ và lịch sử phát triển của tiếng Việt. Bài viết đồng thời đặt bản Phật Thuyết Thiên Địa Bát Dương Kinh trong bối cảnh lịch sử văn bản rộng hơn. Dựa trên việc khảo sát nội dung, niên đại, tình trạng xuất bản và đặc điểm của chữ viết, tác giả cho rằng bản văn có thể được hình thành từ thế kỷ XIX trở về sau, đồng thời xem xét mối liên hệ giữa các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản với sự phân bố của các phương ngữ Việt Nam. Các bảng đối chiếu và bản đồ trong nghiên cứu minh họa những tương ứng ngữ âm giữa phương ngữ Bắc, Trung và Nam cũng như sự phân bố địa lý của một số hiện tượng được phản ánh trong chữ Nôm. Ở phạm vi rộng hơn, nghiên cứu cho thấy việc phân tích cấu tạo chữ Nôm có thể cung cấp những bằng chứng quan trọng để tái dựng lịch sử âm thanh và sự biến đổi phương ngữ của tiếng Việt. Tác giả cho rằng một số đặc điểm của chữ Nôm trong văn bản có thể phản ánh quá trình biến đổi của các phương ngữ miền Nam từ khoảng thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, qua đó làm nổi bật giá trị của tư liệu Hán–Nôm đối với nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, phương ngữ học, âm vị học lịch sử và lịch sử chữ viết Việt Nam.

Được xuất bản vào năm 2006 trong tập 6 của Ajia Gengo Ronshū (アジア言語論叢, Asian Languages Review), do Viện Nghiên cứu Ngoại ngữ, Đại học Ngoại ngữ Thành phố Kobe phát hành, bài viết bằng tiếng Anh của Masaaki Shimizu, Lê Thị Liên và Shiro Momoki có nhan đề “Dấu vết của cấu trúc song tiết trong tiếng Việt thế kỷ XIV: Chữ Nôm trong văn bia núi Hộ Thành (II)” (The Trace of Dissyllabicity of Vietnamese in the 14th Century: Chữ Nôm Characters Contained in the Inscription of Hộ Thành Mountain (II)). Bài viết giới thiệu và phân tích văn bia số 5 tại núi Non Nước (Hộ Thành), tỉnh Ninh Bình, có khả năng được khắc vào năm 1383, đặc biệt tập trung vào những thông tin về ngữ âm được lưu giữ trong các chữ Nôm trên văn bia. Tiếp nối nghiên cứu trước đó của các tác giả về một văn bia khác tại cùng địa điểm, công trình khảo sát cách thức sử dụng chữ Nôm như một nguồn tư liệu để phục dựng hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thế kỷ XIV. Bài viết cũng cung cấp nội dung văn bia, bản dịch tiếng Anh và hệ thống chú giải lịch sử chi tiết về nhân vật, địa danh, ruộng đất, đơn vị đo lường và thuật ngữ hành chính được ghi lại trong văn bản. Một trọng tâm của nghiên cứu là khả năng còn tồn tại cấu trúc song tiết trong tiếng Việt thời trung đại. Trong khi tiếng Việt hiện đại chủ yếu có cấu trúc đơn tiết ở cấp độ hình vị, các tác giả khảo sát liệu tiếng Việt thế kỷ XIV có còn bảo lưu các tiền âm tiết (presyllables) — những thành tố âm tiết nhỏ đứng trước âm tiết chính — hay không. Thông qua việc phân tích những cách ghi chữ Nôm trong đó hai chữ dường như được sử dụng để biểu thị một đơn vị về sau trở thành một âm tiết duy nhất trong tiếng Việt, các tác giả tìm thấy những bằng chứng cho thấy cấu trúc song tiết cổ này khi đó vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Nghiên cứu kết hợp tư liệu từ văn bia Hộ Thành với tư liệu chữ Nôm trong văn bản Hán-Nôm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh. Thông qua việc đối chiếu cách ghi chữ Nôm, các dạng thức tiếng Việt hiện đại, âm Hán-Việt và các ngôn ngữ thuộc nhóm Việt-Mường, các tác giả phục dựng một số tiền âm tiết trong lịch sử tiếng Việt. Nghiên cứu cũng khảo sát sự tương ứng về thanh điệu và quá trình biến đổi phụ âm nhằm lý giải cách những cấu trúc song tiết cổ có thể phát triển thành cấu trúc đơn tiết đặc trưng của tiếng Việt hiện đại. Ở phạm vi rộng hơn, bài viết cho rằng tiếng Việt vào thế kỷ XIV vẫn còn lưu giữ dấu vết của cấu trúc song tiết, tương đồng với một số đặc điểm còn được bảo lưu trong những ngôn ngữ Việt-Mường có tính bảo thủ như tiếng Rục. Phân tích cho thấy giá trị đặc biệt của các văn bia chữ Nôm thời trung đại đối với nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ: cách lựa chọn và kết hợp các chữ có thể lưu giữ những thông tin ngữ âm không còn thể hiện trong tiếng Việt hiện đại. Vì vậy, nghiên cứu làm nổi bật giá trị của chữ Nôm và tư liệu văn khắc đối với các lĩnh vực ngữ âm học lịch sử tiếng Việt, quá trình chuyển từ cấu trúc song tiết sang đơn tiết, ngôn ngữ học so sánh Việt-Mường và lịch sử phát triển của tiếng Việt.

Được xuất bản vào năm 1999 trong số 28 của Tōnan Ajia: Rekishi to Bunka (東南アジア―歴史と文化―, Đông Nam Á: Lịch sử và Văn hóa), bài viết bằng tiếng Nhật của Shimizu Masaaki (清水政明) có nhan đề “Âm Hán-Việt trong từ điển của Alexandre de Rhodes” (Sino-Vietnamese Readings Included in the Dictionary of Alexandre de Rhodes; Alexandre de Rhodes の辞書に見るベトナム漢字音について). Nghiên cứu sử dụng Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum — thường được biết đến với tên gọi Từ điển Việt–Bồ–La — do Alexandre de Rhodes xuất bản tại Rome vào năm 1651 làm nguồn tư liệu chính để khảo sát lịch sử âm Hán-Việt. Từ góc độ ngữ âm học lịch sử, bài viết phân tích hơn 970 chữ Hán được phiên âm bằng chữ La-tinh kèm dấu thanh trong từ điển của de Rhodes. Thông qua việc đối chiếu các cách ghi âm ở thế kỷ XVII với âm Hán-Việt hiện đại, tác giả khảo sát những biến đổi trong hệ thống phụ âm đầu, cụm phụ âm, nguyên âm, phụ âm cuối và thanh điệu, qua đó làm sáng tỏ một số đặc điểm của tiếng Việt trung đại cũng như quá trình hình thành và phát triển của hệ thống âm Hán-Việt hiện nay. Một phần quan trọng của nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi của phụ âm và các cụm phụ âm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. Tác giả phân tích những trường hợp mà cách đọc được ghi trong từ điển của de Rhodes khác với âm Hán-Việt hiện đại và cho rằng một số khác biệt này phản ánh những quá trình biến đổi ngữ âm có tính hệ thống. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số dạng thức cổ không hoàn toàn biến mất mà vẫn còn được bảo lưu trong một số phương ngữ tiếng Việt hiện nay, qua đó cho thấy giá trị của nguồn tư liệu thế kỷ XVII đối với việc nghiên cứu cả lịch sử lẫn sự đa dạng phương ngữ của tiếng Việt. Bài viết cũng khảo sát hệ thống thanh điệu tiếng Việt được ghi nhận trong từ điển của de Rhodes. Mặc dù hệ thống tiếng Việt thế kỷ XVII có sáu thanh, tương tự tiếng Việt hiện đại, tác giả nhận thấy một số âm tiết được viết với thanh hỏi trong chính tả hiện đại lại được ghi bằng thanh ngã trong từ điển thế kỷ XVII, và ngược lại. Hiện tượng này được xem xét trong mối liên hệ với sự đối lập về âm vực và quá trình phát triển lịch sử của hệ thống thanh điệu tiếng Việt. Ở phạm vi rộng hơn, nghiên cứu cho thấy Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes không chỉ là một nguồn tư liệu quan trọng đối với lịch sử chữ Quốc ngữ, mà còn là một nguồn dữ liệu ngôn ngữ đặc biệt có giá trị để tái dựng tiếng Việt thế kỷ XVII và nghiên cứu lịch sử phát triển của âm Hán-Việt. Việc đối chiếu cách ghi âm trong từ điển với âm Hán-Việt hiện đại giúp nhận diện những biến đổi ngữ âm diễn ra trong nhiều thế kỷ, đồng thời cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của sự khác biệt phương ngữ và tục kiêng húy đối với một số cách đọc. Vì vậy, bài viết có giá trị đối với các lĩnh vực ngữ âm học lịch sử tiếng Việt, nghiên cứu âm Hán-Việt, phương ngữ học, lịch sử chữ Quốc ngữ và lịch sử phát triển của tiếng Việt.

Được xuất bản vào năm 2010 trong số 2 của Journal of the Research Institute for World Languages, Đại học Osaka, bài viết bằng tiếng Nhật của Shimizu Masaaki (清水政明) có nhan đề “Phát hiện phần bị thất lạc của văn bia núi Hộ Thành (1342): Chữ húy và các âm Hán-Việt ngoại lệ thuộc vận Ngu” (Discovery of the Lost Portion of Hộ Thành Mountain Inscription (1342): Taboo Characters and the Irregular Sino-Vietnamese Readings in the Yu Rhyme Group; 護城山碑文(1342)欠落部の発見―所収避諱文字と虞韻所属例外字音―). Bài viết công bố việc phát hiện, trong chuyến khảo sát thực địa vào tháng 3 năm 2006, phần 12 dòng đầu từng bị thất lạc của văn bia núi Hộ Thành, có niên đại 1342. Đây là văn bia mà Henri Maspero từng giới thiệu vào năm 1912 và xem là một trong những tư liệu cổ quan trọng đối với việc nghiên cứu chữ Nôm và lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Tác giả phục dựng nội dung của phần văn bia mới được tìm thấy, đồng thời sử dụng nguồn tư liệu này để khảo sát cách đọc lịch sử của các chữ xuất hiện trên văn bia. Bài viết đặc biệt chú trọng đến chữ húy (避諱字) và mối quan hệ của chúng với những cách đọc Hán-Việt ngoại lệ. Nghiên cứu xác định một chữ húy xuất hiện sau tên Mạc và khảo sát mối liên hệ của chữ này với chữ 球, có âm Hán-Việt là cầu — một cách đọc bất quy tắc trong vận Ngu (虞). Thông qua việc đối chiếu với các nguồn tư liệu lịch sử khác, tác giả cho rằng cách đọc ngoại lệ này bắt nguồn từ tục kiêng húy dưới triều Trần, dẫn đến hiện tượng thay thế nguyên âm trong cách đọc chữ Hán. Từ trường hợp này, bài viết mở rộng khảo sát sang những ví dụ khác về các âm Hán-Việt ngoại lệ được ghi nhận trong tư liệu lịch sử. Tác giả xem xét cách thức mà sự biến đổi ngữ âm do kiêng húy có thể tác động đến quá trình hình thành và lưu truyền cách đọc Hán-Việt, trong đó có các hiện tượng biến đổi nguyên âm và nguyên âm đôi. Các bảng đối chiếu trong nghiên cứu so sánh cách đọc thông thường và cách đọc ngoại lệ, đồng thời đặt chúng trong mối quan hệ với các vận bộ của tiếng Hán lịch sử và quá trình biến đổi ngữ âm trong tiếng Việt. Ở phạm vi rộng hơn, nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của tư liệu văn khắc, tục kiêng húy và văn bia lịch sử đối với việc tái dựng lịch sử âm đọc Hán-Việt. Việc phát hiện lại phần bị thất lạc của văn bia núi Hộ Thành cung cấp thêm bằng chứng văn bản để tìm hiểu mối quan hệ giữa chữ Hán, lịch sử ngữ âm tiếng Việt và những quy ước xã hội từng tác động đến cách đọc chữ trong xã hội Việt Nam thời trung đại. Tác giả cũng cho rằng nguyên tắc hình thành âm đọc kiêng húy ở Việt Nam có những điểm căn bản khác với Trung Quốc, qua đó làm nổi bật giá trị của tư liệu văn khắc Việt Nam đối với nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử, âm Hán-Việt, chữ Nôm và lịch sử văn tự Việt Nam.






